Khác biệt giữa các bản “Cache (tin học)”

+ đảm bảo một kích thước dữ liệu tối thiểu hoặc đại diện theo yêu cầu của ít nhất một trong các quá trình giao tiếp liên quan đến việc truy cập.
 
Buffer là một vị trí bộ nhớ tạm thời thường được sử dụng vì các instruction CPU không thể trực tiếp giảitruy quyếtcập các dữ liệu được lưu trữ trong các thiết bị ngoại vi. Như vậy, bộ nhớ địa chỉ được sử dụng như là một giai đoạn trung gian. Ngoài ra, một buffer như vậy có thể khả thi khi một khối lượng lớn các dữ liệu được lắp ráp hoặc tháo rời (theo yêu cầu của một thiết bị lưu trữ), hoặc khi dữ liệu có thể được gửi theo một thứ tự khác nhau hơn là trong đó nó được tạo ra. Ngoài ra, một bộ đệm toàn bộ dữ liệu thường được chuyển tuần tự (ví dụ vào đĩa cứng), vì vậy chính buffer bản thân đôi khi làm tăng hiệu suất chuyểntruyền tải hoặc làm giảm sự biến đổi hoặc "sự sợ"rối loạn của độ trễ việc chuyển giao như trái ngược với bộ nhớ đệm mà mục đích là để giảm độ trễ. Những lợi ích này có mặt ngay cả khi dữ liệu buffer được ghi vào buffer một lần và đọc từ bộ đệm một lần.
 
Một bộ nhớ cache cũng làm tăng hiệu suất truyền tải. Một phần của sự gia tăng tương tự xuất phát từ khả năng rằng nhiều giao dịch chuyển nhỏ sẽ kết hợp thành một khối lớn. Nhưng chính hiệu-được xảy ra bởi vì có một cơ hội tốt mà cùng một dữ liệu sẽ được đọc từ bộ nhớ cache nhiều lần, hoặc số liệu bằng văn bản sẽ sớm được đọc. Mục đích duy nhất của một bộ nhớ cache là để giảm truy cập vào kho chậm hơn nằm bên dưới. Bộ nhớ cache cũng thường là một lớp trừu tượng được thiết kế để có thể nhìn thấy từ quan điểm của các lớp lân cận.
 
===Bộ nhớ đệm đĩa (Disk Cache)===
3

lần sửa đổi