Khác biệt giữa các bản “Chim lội”

n
clean up, replaced: {{Commons category → {{thể loại Commons using AWB
n (clean up, General fixes using AWB)
n (clean up, replaced: {{Commons category → {{thể loại Commons using AWB)
}}
 
'''Chim lội''' hay '''chim đầm lầy''' là một tập hợp các loài chim thuộc [[Bộ (sinh học)|bộ]] [[Bộ Rẽ|Rẽ]] (Charadriiformes), trừ các loài [[chim biển]] thuộc [[họ Chim cướp biển]] (Stercorariidae), [[mòng biển]] (Laridae), [[họ Nhàn]] (Sternidae), [[họ Xúc cá]] (Rynchopidae) và [[họ Chim anca]] (Alcidae).
 
Đa số các [[loài]] sống tại các môi trường đầm lầy hay ven biển. Nhiều loài sống ở [[Bắc Cực]] và miền ôn đới thường [[di trú (chim)|di trú]]. Vài loài chim vùng Bắc Cực, ví dụ loài [[rẽ nhỏ]] (''[[Calidris minuta]]''), là một vài trong số những loài chim di trú xa nhất và trải qua mùa không sinh sản ở [[Nam bán cầu]]. Trong khi đó, các loài sống ở vùng nhiệt đới thường định cư một chỗ và chỉ chuyển đi nơi khác để tránh mưa.
 
Đa số các loài chim lội bắt [[động vật không xương sống]] trong [[bùn]] hay mặt đất để ăn. Các loài khác nhau lại có chiều dài mỏ khác nhau, giúp chúng kiếm mồi trong cùng một khu vực sống mà không phải trực tiếp cạnh tranh nhau về nguồn thức ăn. Nhiều loài chim lội có các mút thần kinh nhạy cảm ở đầu mỏ, cho phép chúng dò tìm con mồi trốn trong bùn và đất mềm. Một số loài chim lớn hơn, đặc biệt là những loài sống nơi khô ráo hơn, thì ăn [[côn trùng]] và [[động vật bò sát]] nhỏ.
 
Nhiều loài chim lội kích thước nhỏ sống ở vùng ven biển. ''[[Calidris minutilla]]'' là loài nhỏ nhất trong số này; chim trưởng thành chỉ có khối lượng 15,5 g và chỉ dài 13 cm. Người ta cho rằng loài lớn nhất là loài [[rẽ mỏ cong hông nâu]] (''Numenius madagascariensis'') với chiều dài 63 cm và khối lượng 860 g. Tuy nhiên, loài ''[[Esacus magnirostris]]'' mới là loài có khối lượng cơ thể lớn nhất, đạt 1 kg.
 
==Tham khảo==
{{Commonsthể categoryloại Commons|Charadriiformes}}
* Ericson, P. G. P.; Envall, I.; Irestedt, M. & Norman, J. A. (2003): Inter-familial relationships of the shorebirds (Aves: Charadriiformes) based on nuclear DNA sequence data. ''BMC Evol. Biol.'' '''3''': 16. <!-- BMC ejournals use article numbers, not page numbers --> {{doi|10.1186/1471-2148-3-16}} [http://www.biomedcentral.com/content/pdf/1471-2148-3-16.pdf Xem toàn bộ văn bản (PDF)]
 
* Paton, Tara A. & Baker, Allan J. (2006): Sequences from 14 mitochondrial genes provide a well-supported phylogeny of the Charadriiform birds congruent with the nuclear RAG-1 tree. ''Molecular Phylogenetics and Evolution'' '''39'''(3): 657–667. {{DOI|10.1016/j.ympev.2006.01.011}} PMID 16531074
 
* Paton, T. A.; Baker, A. J.; Groth, J. G. & Barrowclough, G. F. (2003): RAG-1 sequences resolve phylogenetic relationships within charadriiform birds. ''Molecular Phylogenetics and Evolution'' '''29''': 268-278. {{doi|10.1016/S1055-7903(03)00098-8}} PMID 13678682
 
* Thomas, Gavin H.; Wills, Matthew A. & Székely, Tamás (2004a): Phylogeny of shorebirds, gulls, and alcids (Aves: Charadrii) from the cytochrome-''b'' gene: parsimony, Bayesian inference, minimum evolution, and quartet puzzling. ''Molecular Phylogenetics and Evolution'' '''30'''(3): 516-526. {{doi|10.1016/S1055-7903(03)00222-7}}
5.681.853

lần sửa đổi