Khác biệt giữa các bản “Đế quốc Anh”

 
== Thời kỳ 1914–1945 ==
Bước sang thế kỷ 20, lo ngại bắt đầu tăng lên tại Anh rằng họ sẽ không còn có thể phòng thủ [[Metropole|mẫu quốc]] và sự toàn vẹn của Đế quốc trong khi đương thời duy trì chính sách "[[cô lập vinh quang]]".<ref>[[#refOBrien|O'Brien]], tr. 1.</ref> Đức nhanh chóng phát triển thành một cường quốc quân sự và công nghiệp và lúc này được nhận định là đối thủ khả dĩ nhất trong bất kỳ chiến tranh tương lai nào. Công nhận rằng họ quá tải tại Thái Bình Dương<ref>[[#refOHBEv4|Brown]], tr. 667.</ref> và bị đe dọa tại mẫu quốc trước [[Hải quân Đế quốc Đức]], Anh lập một [[Đồng minh Anh-Nhật|liên minh]] với Nhật Bản vào năm 1902 và với các cựu địch thủ [[Entente cordiale|Pháp]][[Liên minh Anh-Nga|Nga]] lần lượt vào năm 1904 và 1907.<ref>[[#refLloyd1996|Lloyd]], tr. 275.</ref>
 
=== Chiến tranh thế giới thứ nhất ===
{{Main|Lịch sử Vương quốc Anh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất}}
[[Tập tin:Australian 53rd Bn Fromelles 19 July 1916.jpg|thumb|190px|Các binh sĩ của Sư đoàn số 5 Úc chờ tấn công trong [[trận Fromelles]], 19 tháng 7 năm 1916]]
Lo ngại chiến tranh với Đức của người Anh được hiển thị vào năm 1914 khi [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]] bùng phát. Anh nhanh chóng xâm chiếm và chiếm đóng hầu hết thuộc địa hải ngoại của Đức tại châu Phi. Tại Thái Bình Dương, Úc và New Zealand tương ứng chiếm đóng [[Tân Guinea thuộc Đức]] và [[Samoa]]. Các kế hoạch phân chia hậu chiến Đế quốc Ottoman cùng phe với Đức được Anh và Pháp bí mật soạn thảo theo [[Hiệp định Sykes–Picot]] 1916. Hiệp định này không được tiết lộ cho [[Hussein bin Ali, Sharif của Mecca|Sharif của Mecca]], là người mà Anh khuyến khích tiến hành một cuộc khởi nghĩa Ả Rập chống lại Ottoman, tạo ấn tượng rằng Anh ủng hộ thiết lập một quốc gia Ả Rập độc lập.<ref name="Brown494-495">[[#refOHBEv4|Brown]], các trang 494–495.</ref>
[[File:The Empire Needs Men WWI.jpg|thumb|left|190px|Một áp phích kêu gọi nam nhi từ mọi khu vực thuộc Đế quốc Anh để gia nhập quân đội Anh.]]
 
Anh tuyên chiến với Đức và các đồng minh của họ, điều này cũng liên lụy đến các thuộc địa và quốc gia tự trị của Anh vốn là những nguồn cung cấp quân sự, tài chính và tài nguyên vô giá. Trên 2,5 triệu binh sĩ phục vụ trong các quân đội của các quốc gia tự trị, cũng như có hành nghìn quân tình nguyện từ các [[thuộc địa vương thất]].<ref>[[#refMarshall|Marshall]], các trang 78–79.</ref> Đóng góp của các binh sĩ Úc và New Zealand trong [[Chiến dịch Gallipoli]] 1915 chống Đế quốc Ottoman tạo một tác động rất lớn đến ý thức quốc gia tại quê hương và đánh dấu một bước ngoặt trong chuyển biến Úc và New Zealand từ các thuộc địa sang các quốc gia. Người Canada nhận định [[trận Vimy Ridge]] với một quan niệm tương tự.<ref>[[#refLloyd1996|Lloyd]], tr. 277.</ref> Đóng góp quan trọng của các quốc gia tự trị vào nỗ lực chiến tranh được Thủ tướng Anh [[David Lloyd George]] công nhận vào năm 1917 khi ông mời thủ tướng của các quốc gia tự trị tham gia một [[Nội các Chiến tranh Đế quốc]] để phối hợp chính sách đế quốc.<ref>[[#refLloyd1996|Lloyd]], tr. 278.</ref>
 
Theo các điều khoản của [[Hòa ước Versailles]] kết thúc thế chiến vào năm 1919, đế quốc đạt đến quy mô tối đa khi có thêm {{convert|1800000|sqmi|km2}} và 13 triệu thần dân mới.<ref>[[#refFergusonEmpire2004|Ferguson 2004]], tr. 315.</ref> Các thuộc địa của Đức và [[Ottoman]] được phân cho các cường quốc Đồng Minh với vị thế [[Hội Quốc Liên]] ủy thác. Anh giành được quyền kiểm soát [[Palestine]], [[Transjordan]], [[Iraq]], các bộ phận của [[Cameroon]] và [[Togo]] và [[Tanganyika]]. Bản thân các quốc gia tự trị cũng giành được các lãnh thổ ủy thác riêng: [[Liên bang Nam Phi]] giành được [[Tây-Nam Phi]] (nay là [[Namibia]]), Úc giành được [[Tân Guinea thuộc Đức]] và New Zealand giành được [[Samoa|Tây Samoa]]. [[Nauru]] là một lãnh thổ ủy thác chung của Anh và hai quốc gia tự trị Thái Bình Dương.<ref>[[#refFox2008|Fox]], các trang 23–29, 35, 60.</ref>
 
=== Thời kỳ giữa hai thế chiến ===
Trật tự thế giới đang thay đổi vốn bắt nguồn từ đại chiến, đặc biệt là Hoa Kỳ và Nhật Bản phát triển thành các cường quốc hải quân và sự phát triển của các phong trào độc lập tại Ấn Độ và Ireland, dẫn đến một tái xét lớn trong chính sách đế quốc của Anh.<ref>[[#refGoldstein|Goldstein]], tr. 4.</ref> Buộc phải lựa chọn giữa liên kết với Hoa Kỳ hoặc Nhật Bản, Anh quyết định không gia hạn liên minh với Nhật mà thay vào đó ký kết [[Hiệp định Hải quân Washington]] 1922, theo đó Anh chấp thuận đồng đẳng hải quân với Hoa Kỳ.<ref name="reflouis302">[[#refLouis2006|Louis]], tr. 302.</ref> Quyết định này là nguồn gốc của nhiều tranh luận tại Anh trong thập niên 1930<ref>[[#refLouis2006|Louis]], tr. 294.</ref> khi các chính phủ quân phiệt nắm được quyền lực tại Nhật Bản và Đức một phần nhờ vào [[Đại khủng hoảng]], do họ lo ngại rằng Đế quốc không thể tồn tại qua một cuộc tấn công đồng thời từ hai quốc gia.<ref>[[#refLouis2006|Louis]], tr. 303.</ref> Vấn đề an ninh của đế quốc là một mối quan tâm nghiêm trọng tại Anh, đương thời Đế quốc mang tính sống còn với kinh tế Anh.<ref>[[#refLee1996|Lee 1996]], tr. 305.</ref>
 
Năm 1919, thất vọng bắt nguồn từ việc trì hoãn [[Phong trào giành quyền tự quản cho Ireland|Ireland tự quản]] khiến các thành viên của [[Sinn Féin]]- một đảng ủng hộ độc lập và chiếm đa số ghế của Ireland trong Quốc hội Anh trong [[tổng tuyển cử Ireland (1918)|tổng tuyển cử 1918]]- thành lập một [[Nghị viện Ireland]] tại [[Dublin]], tại đây độc lập của Ireland được tuyên bố. [[Quân đội Cộng hòa Ireland]] đồng thời bắt đầu một chiến tranh du kích chống chính quyền Anh.<ref>[[#refOHBEv4|Brown]], tr- 143.</ref> [[Chiến tranh độc lập Ireland|Chiến tranh Anh-Ireland]] kết thúc vào năm 1921 trong một bế tắc và ký kết [[Hiệp định Anh-Ireland]] thiết lập [[Quốc gia Tự do Ireland]], một quốc gia tự trị trong Đế quốc Anh, với độc lập nội bộ hữu hiệu song vẫn có liên kết về hiến pháp với Quân chủ Anh.<ref>[[#refrefSmith1998|Smith]], tr. 95.</ref> [[Bắc Ireland]], gồm 6/2132 quận của Ireland lập tức thi hành quyền lựa chọn theo hiệp định là duy trì tình trạng hiện hành trong Vương quốc Liên hiệp.<ref>[[#refMagee|Magee]], tr. 108.</ref>
 
[[Tập tin:ImperialConference.jpg|thumb|left|[[George V]] cùng thủ tướng của Anh và các quốc gia tự trị trong Hội nghị Đế quốc 1926]]
Một cuộc đấu tranh tương tự bắt đầu tại Ấn Độ khi [[Đạo luật Chính phủ Ấn Độ 1919]] không đáp ứng yêu cầu độc lập.<ref>[[#refFergusonEmpire2004|Ferguson 2004]], tr. 330.</ref> Lo ngại về các âm mưu cộng sản và ngoại quốc sau Âm mưu Ghadar khiến các hạn chế thời chiến được khôi phục theo các [[Đạo luật Rowlatt]]. Điều này dẫn đến căng thẳng,<ref name="refjames416">[[#refJames2001|James]], tr. 416.</ref> đặc biệt là tại khu vực [[Punjab (vùng)|Punjab]], tại đây các biện pháp đàn áp lên đến cực độ trong [[Thảm sát Jallianwala Bagh|Thảm sát Amritsar]]. Dư luận tại Anh bị chia rẽ về tính đạo đức của sự kiện, giữa những người cho rằng nó cứu Ấn Độ khỏi tình trạng hỗn loạn và những người cho rằng nó ghê tởm.<ref name="refjames416"/> [[Phong trào bất hợp tác]] tiếp đó được ngưng lại vào tháng 3 năm 1922 sau [[sự kiện Chauri Chaura]] và bất mãn tiếp tục âm ỉ trong 25 năm tiếp theo.<ref>{{cite journal|last=Low|first=D.A.|title=The Government of India and the First Non-Cooperation Movement-—1920–1922|journal=The Journal of Asian Studies|date=February 1966|volume=25|issue=2|pages=241–259|doi=10.2307/2051326}}</ref>
 
Ai Cập được tuyên bố là một [[bảo hộ|quốc gia bảo hộ]] của Anh khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng phát, đến năm 1922 thì được [[Tuyên bố độc lập đơn phương của Ai Cập|trao độc lập chính thức]], song tiếp tục là một quốc gia tòng thuộc của Anh cho đến năm 1954. Các binh sĩ Anh duy trì đồn trú tại Ai Cập cho đến khi ký kết [[Hiệp định Anh-Ai Cập]] vào năm 1936,<ref>[[#refrefSmith1998|Smith]], tr. 104.</ref> theo đó nhất trí rằng binh sĩ Anh sẽ triệt thoái song tiếp tục chiếm lĩnh và phòng thủ khu vực [[Kênh đào Suez]]. Đổi lại, Ai Cập được giúp đỡ để gia nhập [[Hội Quốc Liên]].<ref>[[#refOHBEv4|Brown]], tr. 292.</ref> [[Iraq]] là một [[lãnh thổ ủy trị Hội Quốc liên|lãnh thổ ủy trị]] của Anh từ năm 1920 và cũng giành được tư cách thành viên của Hội Quốc Liên nhân danh bản thân sau khi giành độc lập từ Anh vào năm 1932.<ref>[[#refrefSmith1998|Smith]], tr. 101.</ref> Tại [[Palestine]], Anh đề xuất vấn đề hòa giải giữa các cộng đồng Ả Rập và Do Thái. [[Tuyên ngôn Balfour]] năm 1917 được hợp nhất vào các diều khoản ủy thác, cho rằng một tổ quốc cho người Do Thái sẽ được thiết lập tại Palestine và những người Do Thái nhập cư được chấp thuận đến một hạn định do thế lực ủy thác xác định.<ref>[[#refLouis2006|Louis]], tr. 271.</ref> Điều này dẫn đến xung đột gia tăng với cư dân Ả Rập, họ [[khởi nghĩa Ả Rập ở Palestine (1936–39)|khởi nghĩa công khai vào năm 1936]]. Do mối họa chiến tranh với Đức gia tăng trong thập niên 1930, Anh xét thấy sự ủng hộ của cư dân Ả Rập tại Trung Đông quan trọng hơn thiết lập một quê hương cho người Do Thái và chuyển sang một lập trường thân Ả Rập, hạn chế người Do Thái nhập cư và dẫn đến kích hoạt một [[cuộc nổi loạn của người Do Thái ở Palestine|cuộc nổi loạn của người Do Thái]].<ref name="Brown494-495"/>
 
Thẩm quyền của các quốc gia tự trị được chế định chính sách đối ngoại riêng của mình, độc lập với Anh, được công nhận tại [[hội nghị Đế quốc 1923]].<ref>[[#refMcIntyre|McIntyre]], tr. 187.</ref> Yêu cầu của Anh về trợ giúp quân sự từ các quốc gia tự trị khi bùng phát [[Khủng hoảng Chanak]] vào năm trước đó bị Canada và Nam Phi bác bỏ và Canada từ chối bị rằng buộc theo [[Hiệp ước Lausanne]] 1923.<ref>[[#refOHBEv4|Brown]], tr. 68.</ref><ref>[[#refMcIntyre|McIntyre]], tr. 186.</ref> Sau áp lực từ Ireland và Nam Phi, Hội nghị Đế quốc 1926 ban bố [[Tuyên ngôn Balfour (1926)|Tuyên ngôn Balfour]], tuyên bố các quốc gia tự trị là "các cộng đồng tự trị trong Đế quốc Anh, bình đẳng về vị thế, chẳng bằng cách nào một bên phải lệ thuộc bên khác" trong một "[[Khối Thịnh vượng chung Anh|Thịnh vượng chung của các Quốc gia]] Anh".<ref>[[#refOHBEv4|Brown]], tr. 69.</ref> Tuyên bố này được trao bản chất pháp lý theo [[Quy chế Westminster 1931|Quy chế Westminster]] 1931.<ref name="rhodes5">[[#refRhodes2009|Rhodes, Wanna & Weller]], các trang 5–15.</ref> Các quốc hội của Canada, Úc, New Zealand, Liên bang Nam Phi, Quốc gia Tự do Ireland và [[Quốc gia tự trị Newfoundland|Newfoundland]] nay độc lập với kiểm soát tư pháp của Anh, họ có thể hủy bỏ các [[luật Anh]] và Anh không còn có thể thông qua các luật cho họ mà không được họ tán thành.<ref>[[#refTurpin2007|Turpin & Tomkins]], tr. 48.</ref> Newfoundland quay lại tình trạng thuộc địa vào năm 1933 do các khó khăn tài chính trong Đại khủng hoảng.<ref>[[British Empire#refLloyd1996|Lloyd]], tr. 300.</ref> Ireland tách xa Anh hơn nữa khi đưa ra một [[hiến pháp Ireland|hiến pháp]] mới vào năm 1937, theo đó Ireland thực tế trở thành một quốc gia cộng hòa.<ref>[[#refKenny|Kenny]], tr. 21.</ref>
 
=== Chiến tranh thế giới thứ hai ===
24.114

lần sửa đổi