Khác biệt giữa các bản “Lịch sử Bắc Kinh”

n
không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
n
[[Tập tin:Bundesarchiv Bild 137-023958, Tsing-Hua College in Peking.jpg|nhỏ|phải|Đại sảnh của [[Đại học Thanh Hoa]] thập niên 1990, do Hoa Kỳ tài trợ]]
 
Năm 1860, trong [[Chiến tranh Nha phiến lần thứ hai]], liên quân Anh-Pháp tiêu diệt quân Thanh trong [[trận Bát Lý Kiều]] ở phía đông thành Bắc Kinh. Liên quân Anh-Pháp chiếm được thành và cướp phá [[Di Hòa Viên]] cũng như [[Viên Minh Viên]]. Lãnh sự Anh Quốc ra lệnh phóng hỏa Viên Minh Viên để trả đũa việc nhà Thanh ngược iđãi các tù nhân Tây phương. Tuy nhiên, lãnh sự Anh Quốc bỏ qua Tử Cấm Thành, giữ nó lại làm một địa điểm tổ chức lễ ký kết hiệp ước. Theo [[Điều ước Bắc Kinh]] kết thúc chiến tranh, triều đình Thanh buộc phải cho phép các cường quốc Tây phương thiết lập sự hiện diện ngoại giao thường trực trong thành. Các đại sứ quán ngoại quốc được đặt ở đông nam Tử Cấm Thành, tại [[Đông Giao Dân Hạng]].
 
Năm 1886, [[Từ Hy thái hậu]] hạ lệnh cho xây dựng lại [[Di Hòa Viên]] bằng kinh phí từng dự định dùng cho hải quân.<ref name=QingHistory1/> Sau khi nhà Thanh chiến bại trước Nhật Bản trong [[Chiến tranh Thanh-Nhật]] và buộc phải ký kết [[Hiệp ước Shimonoseki|Điều ước Mã Quan]], [[Khang Hữu Vi]] tập hợp 1.300 sĩ đại phu bên ngoài [[Tuyên Vũ Môn]] để phản đối điều ước và thượng biểu cho [[Quang Tự|Quang Tự Đế]]. Vào tháng 6 năm 1898, Quang Tự Đế chấp thuận các đề xuất của Khang Hữu Vi, [[Lương Khải Siêu]] và các sĩ đại phu khác và cho tiến hành [[Bách Nhật Duy Tân]]. Cuộc cải cách này khiến Từ Hi thái hậu lo sợ, và với sự giúp đỡ của ngoại thích [[Vinh Lộc]] và chỉ huy [[quân Bắc Dương|Bắc Dương quân]] là [[Viên Thế Khải]], Thái hậu tiến hành chính biến. Quang Tự Đế bị bắt giam, Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu phải chạy trốn ra ngoại quốc, còn [[Đàm Tự Đồng]] và [[Mậu Tuất lục quốc tử|ngũ vị quân tử khác]] bị xử trảm thị chúng tại Thái Thị Khẩu bên ngoài Tuyên Vũ Môn. Một di sản của thời gian duy tân ngắn ngủi là việc thành lập [[Đại học Bắc Kinh]] vào năm 1898.
Năm 1898, một nhóm [[thiên hi niên chủ nghĩa]] gọi là [[phong trào Nghĩa Hòa Đoàn]] nổi dậy tại [[Sơn Đông]] với mục đích chống lại chủ nghĩa đế quốc Tây phương xâm nhập Trung Quốc.<ref>[[#Li, Dray-Novey & Kong|Li, Dray-Novey & Kong 2007]]: 119–120</ref> Họ tấn công người Tây phương, đặc biệt là những nhà truyền giáo và những người Trung Quốc cải sang Cơ Đốc giáo. Triều đình Thanh thoạt đầu trấn áp Nghĩa Hòa Đoàn song Từ Hy thái hậu cố gắng dùng họ để ngăn chặn ảnh hưởng của ngoại bang và cho phép họ tập trung tại Bắc Kinh. Vào tháng 6 năm 1900, Nghĩa Hòa Đoàn cố xông vào khu Đông Giao Dân Hạng, lúc đó là nơi trú ẩn của vài trăm thường dân ngoại quốc và khoảng 3.200 tín hữu Cơ Đốc Trung Hoa. Một đội quân quốc tế [[Liên quân tám nước|gồm tám nước]] cuối cùng [[trận Bắc Kinh (1900)|đánh bại]] Nghĩa Hòa Đoàn và quân Thanh, giải vây cho khu vực các sứ quán. Các đội quân ngoại quốc cướp phá thành Bắc Kinh và chiếm đóng miền Bắc Trung Quốc. Từ Hi thái hậu chạy đến [[Tây An]] và chỉ trở về Bắc Kinh sau khi triều đình Thanh ký kết [[Điều ước Tân Sửu]] mà theo đó Trung Quốc phải trả bồi thường chiến phí 450 triệu [[lạng]] với lãi suất 4 phần trăm. Gánh nặng bồi thường chiến phí khiến triều đình Thanh phải gia tăng thu thuế và khiến quốc lực tiếp tục suy yếu.<ref>Diana Preston, "The Boxer Rising." ''Asian Affairs'' 2000 31(1): 26-36. Issn: 0306-8374 Fulltext: [[Ebsco]]</ref>
 
Sau khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn, triều đình Thanh đẩy nhanh tốc độ cải cách và dễ dàng tiếp nhận ảnh hưởng của ngoại quốc. Các kỳ thi [[khoa cử]] kéo dài hàng thế kỷ bị bãi bỏ vào năm 1905, thay thế chúng là hệ thống giảng dạy và văn bằng theo kiểu Tây phương. Giáo dục công cộng cho phụ nữ được nhấn mạnh hơn và nhận được sự ủng hộ của cả Từ Hi thái hậu.<ref>Weikun Cheng, "Going Public Through Education: Female Reformers and Girls' Schools in Late Qing Beijing." ''Late Imperial China'' 2000 21(1): 107-144. Issn: 0884-3236 Fulltext: [[Project Muse]]</ref> Đến cuối thời Thanh, các trường nữ sinh tại Bắc Kinh cởi trói yêu cầu đầu vào. Viện Cảnh sát Bắc Kinh được thành lập vào năm 1901 là học viện đào tạo cảnh sát hiện đại đầu tiên tại Trung Quốc, sử dụng các huấn luyện viên người Nhật và trở thành một hình mẫu cho học viện cảnh sát của các thành phố khác. [[Học viện Y Hiệp hòa Bắc Kinh]] được các nhà truyền giáo thành lập vào năm 1906 và được [[quỹ Rockefeller]] tài trợ từ năm 1915, thiết lập tiêu chuẩn cho việc đào tạo y tá.<ref>Kaiyi Chen, "Quality Versus Quantity: the Rockefeller Foundation and Nurses' Training in China." ''Journal of American-East Asian Relations'' 1996 5(1): 77-104. Issn: 1058-3947</ref> Thư viện Đại học Thủ đô tại Bắc Kinh được thành lập vào năm 1898, nó là thư viện đại học hiện đại đầu tiên của Trung Quốc dành để phục vụ cho việc giáo dục giáo dục công lập bậc caođại học.<ref>Jing Liao, "The Genesis of the Modern Academic Library in China: Western Influences and the Chinese Response." ''Libraries & Culture'' 2004 39(2): 161-174. Issn: 0894-8631 Fulltext: [[Project Muse]]</ref><ref>[http://www.bnu.edu.cn/pub/bei/administrationservices/4250.htm Beijing Normal University Library]</ref> Năm 1911, Chương trình Học giả Bồi hoàn Canh Tý do Hoa Kỳ tài trợ thiết lập American Indemnity College ở Thanh Hoa Viên thuộc tây bắc Bắc Kinh, hoạt động như một trường học dự bị cho các sinh viên có kế hoạch đi lưu học ở ngoại quốc. Năm 1912, trường được đổi tên thành [[Đại học Thanh Hoa]], và cho đến nay vẫn duy trì vị thế là một trong các cơ sở giáo dục bậc caođại học hàng đầu tại Trung Quốc.
 
[[Tập tin:Peking environs 1912.jpg|nhỏ|trái|Bản đồ năm 1912 mô tả tường thành, các tuyến đường sắt và nhà ga tại Bắc Kinh. ''Nei Ch’eng'' tức Nội Thành và ''Nan Ch’eng'' tức Nam Thành (Ngoại Thành).]]
Cũng trong năm 1905, Hộ bộ và các nhà đầu tư tư nhân thành lập Ngân hàng Hộ bộ, ngân hàng trung ương đầu tiên của Trung Quốc và cũng là ngân hàng "hiện đại" lớn nhất đương thời<ref>[[#Sheehan|Sheehan 2002]]: 52</ref> Ngân hàng này được nổiđổi tên thành [[Ngân hàng Trung Quốc]] sau Cách mạng Tân Hợi và bắt đầu biến Bắc Kinh trở thành trung tâm của các ngân hàng quốc gia tại Trung Quốc. Các ngân hàng ngoại quốc lớn như [[HSBC]], [[Citibank]], [[Deutsch-Asiatische Bank]] và [[Ngân hàng Chính kim Yokohama]] mở chi nhánh tại Đông Giao Dân Hạng.
 
Tuyến đường sắt thương mại đầu tiên qua địa phận Bắc Kinh là tuyến Thiên Tân-Lư Câu Kiều, được xây dựng từ năm 1895 đến 1897 bằng vốn của Anh Quốc.<ref name="Dong2002p35">[[#Dong 2002|Dong 2002]]: 35</ref>. Ga cuối của tuyến đường sắt được kéo dài hơn về phía trung tâm thành phố, tới Phong Đài và sau là tới Mã Gia Bảo, nay bên ngoài [[Vĩnh Định Môn]], một cổng thành của Ngoại Thành.<ref name="Dong2002p35"/> Triều đình Thanh chống lại việc kéo dài tuyến đường sắt vào trong tường thành.<ref name="Dong2002p35"/> Để đảm bảo Từ Hy thái hậu sẽ ủng hộ việc xây dựng đường sắt, Tổng đốc Trực Lệ [[Lý Hồng Chương]] nhập khẩu một xe lửa nhỏ từ [[Đế quốc Đức|Đức]] và cho xây dựng một tuyến đường sắt khổ hẹp từ cung của bà tại Trung Nam Hải đến thực đường của bà tại Bắc Hải.<ref name="Dong2002p35"/> Từ Hy thái hậu lo ngại rằng tiếng ồn của đầu máy xe lửa sẽ ảnh hưởng đến phong thủy của hoàng cung, vì thế yêu cầu các thái giám kéo xe lửa thay vì dùng động cơ hơi nước.<ref name="Dong2002p35"/>
 
Các cường quốc từng chiếm đóng thành phố trong khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn kéo dài tuyến đường sắt vào trong tường Ngoại Thành ở Vĩnh Định Môn vào năm 1900 và sau đó kéo dài về phía bắc đến Chính Dương Môn (Tiền Môn) ở ngay ngoài tường Nội Thành vào năm 1903.<ref name="Dong2002p35"/> Họ xây dựng một đoạn đường sắt nhánh về phía đông đến [[Thông Châu]] để tiến hành vận chuyển ngũ cốc từ Đại Vận Hà. Đoạn đường sắt này xây dựng từ năm 1896 đến 1905, và được đổi tên thành [[đường sắt Kinh-Hán]] sau khi tiến đến Tiền Môn từ phía tây.<ref name="Dong2002p36">[[#Dong 2002|Dong 2002]]: 36</ref> Việc xây dựng tuyến đường sắt khiến một phần tường thành ở Tuyên Vũ Môn bị phá hủy. Tuyến đường sắt Bắc Kinh-Phụng Thiên vào năm 1907 cũng khiến một đoạn tường thành ở [[Sùng Văn Môn]] bị phá.<ref name="Dong2002p36"/> Tuyến đường sắt đầu tiên tại Trung Quốc được xây dựng mà không cần viện trợ của ngoại quốc là tuyến đường sắt Bắc Kinh-Trương Gia Khẩu, do [[Chiêm Thiên Hựu]] thiết kế và được xây dựng từ năm 1905 đến năm 1909 và điểm cuối của nó nằm ngay bên ngoài Tây Trực Môn.<ref name="Dong2002p36"/> Những năm cuối thời Thanh, Bắc Kinh có các tuyến đường sắt kết nối đến [[Hán Khẩu]] ([[Vũ Hán]]), [[Phổ Khẩu]] (Nam Kinh]], Phụng Thiên (Thẩm Dương) và [[Đại Đồng, Sơn Tây|Đại Đồng]], và là một đầu mối đường sắt lớn tại miền Bắc Trung Quốc.
 
== Thời Trung Hoa Dân Quốc ==
[[Cách mạng Tân Hợi]] năm 1911 lật đổ triều đình Thanh, song chế độ mới là [[Trung Hoa Dân Quốc]] vẫn định đô tại Bắc Kinh do nội các tổng lí đại thần [[Viên Thế Khải]] của nhà Thanh đoạt lấy quyền kiểm soát chính phủ mới từ những nhà cách mạng ở phương nam. Viên Thế Khải và những người kế nhiệm ông (đều xuất thân từ [[quân Bắc Dương]]) cai quản [[chính phủ Bắc Dương]] từ Bắc Kinh cho đến năm 1928, khi [[Trung Quốc Quốc Dân Đảng|Quốc Dân đảng]] [[tái thống nhất Trung Quốc (1928)|tái thống nhất]] quốc gia thông qua [[Bắc phạt|Quốc Dân Cách mạng quân Bắc phạt]], thủ đô từ đó được chuyển đến Nam Kinh, Bắc Kinh được đổi tên thành Bắc Bình. Năm 1937, [[sự kiện Lư Câu Kiều|một cuộc đụng độ]] nổinổ ra giữa quân đội Trung Quốc và Nhật Bản ở Lư Câu Kiều bên ngoài thành Bắc Kinh, dẫn đến [[Chiến tranh Trung-Nhật]]. Người Nhật Bản lập ra [[Chính phủ Lâm thời Trung Hoa Dân Quốc(1937-1940)|Chính phủ Lâm thời Trung Hoa Dân Quốc]] bù nhìn tại miền Bắc Trung Quốc, đổi tên thành phố thành Bắc Kinh và đặt thủ đô của chính phủ này tại Bắc Kinh. Sau khi [[Nhật Bản đầu hàng]] vào năm 1945, thành phố lại thuộc quyền kiểm soát của Trung Quốc và được đổi tên thành Bắc Bình. Trong [[Nội chiến Trung Quốc]] giữa Quốc Dân đảng và Cộng sản đảng, Bắc Kinh được Giải phóng quân tiếp quản hòa bình vào năm 1949 và được đổi tên thành Bắc Kinh, trở thành thành thủ đô của chính thể mới.
 
=== Cách mạng Tân Hợi ===
[[Tập tin:YuanShika Colour.jpg|nhỏ|phải|150px|[[Viên Thế Khải]] đoạt lấy quyền lực tối cao của Trung Quốc sau [[Cách mạng Tân Hợi]]]]
[[Tập tin:Zhongnanhai-south-gates-3438.jpg|nhỏ|phải|Viên Thế Khải thiết lập văn phòng và dinh thự tại khu [[Trung Nam Hải]], Tân Hoa Môn được xây ở lối vào phía nam của Trung Nam Hải vào thời Viên Thế Khải]]
Khi [[khởi nghĩa Vũ Xương]] nổ ra vào tháng 10 năm 1911, triều đình Thanh phái Viên Thế Khải và [[quân Bắc Dương]] của ông đi trấn áp cuộc nổi dậy. Trong lúc [[trận Dương Hạ|chiến đấu]] với những người cách mạng ở phía nam, Viên Thế Khải đồng thời cũng đàm phán với họ. Vào ngày 1 tháng 1 năm 1912, [[Tôn Trung Sơn]] thành lập [[Trung Hoa Dân Quốc]] tại Nam Kinh và được bầu làm [[Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc|đại tổng thống lâm thời]]. [[Chính phủ Lâm thời Trung Hoa Dân Quốc (Nam Kinh)|Chính phủ Lâm thời Trung Hoa Dân Quốc]] không được cường quốc nào công nhận, và Tôn Trung Sơn chấp thuận nhường vị trí lãnh đạo cho Viên Thế Khải để đổi lấy hỗ trợ trong việc chấm dứt triều Thanh. Ngày 12 tháng 2, Viên Thế Khải buộc triều đình Thanh, đang dưới quyền cai quản của nhiếp chính vương [[Tải Phong]], phải từ bỏ địa vị thống trị. [[Hiếu Định Cảnh hoàng hậu|Long Dụ thái hậu]] ra chiếu thoái vị thay mặt [[Phổ Nghi|Tuyên Thống Đế]] Phổ Nghi mới năm tuổi. Ngày hôm sau, Tôn Trung Sơn từ chức đại tổng thống lâm thời và tiến cử Viên Thế Khải vào vị trí này. Theo các điều khoản thoái vị, Phổ Nghi vẫn được giữ các tước hiệu và nhận được một khoản trợ cấp từ Dân Quốc. Phổ Nghi được phép tiếp tục ở trong Tử Cấm Thành một thời gian, song sau đó bị yêu cầu chuyển đến Di Hòa Viên.
 
Tôn Trung Sơn kiên quyết yêu cầu rằng chính phủ lâm thời đặt ở Nam Kinh. Ngày 14 tháng 2, Hội nghị Nghị viên lâm thời bỏ phiếu lần đầu về vấn đề thủ đô, Bắc Kinh nhận được 20 phiếu trong khi Nam Kinh nhận được 5 phiếu, Vũ Xương được 2 phiếu và Thiên Tân được 1 phiếu.<ref name="Xinhai.org p.1">{{zh icon}} [http://www.xinhai.org/yanjiu/191101189.htm 胡绳武 "民国元年定都之争" ''民国档案'' p.1] 2010-12-08</ref> Phần lớn đại biểu Nghị viện muốn đảm bảo hòa bình bằng việc để trung tâm quyền lực tại Bắc Kinh.<ref name="Xinhai.org p.1"/> [[Trương Kiển]] và những người khác biện luận rằng đặt thủ đô ở Bắc Kinh cũng sẽ có thể ngăn ngừa Mãn Châu phục hưng và [[Ngoại Mông (1911–1919)|Mông Cổ ly khai]]. Song Tôn Trung Sơn và [[Hoàng Hưng]] thì ủng hộ Nam Kinh nhằm cân bằng với căn cứ quyền lực của Viên Thế Khải ở phía Bắc.<ref name="Xinhai.org p.1"/> Ngày hôm sau, Hội nghị Nghị viện Lâm thời bỏ phiếu lại, lần này Nam Kinh được 19 phiếu còn Bắc Kinh được 6 phiếu, Vũ Hán được 2 phiếu.<ref name="Xinhai.org p.1"/> Tôn Trung Sơn cử một phái đoàn do [[Thái Nguyên Bồi]] và [[Uông Tinh Vệ]] đi thuyết phục Viên Thế Khải chuyển đến Nam Kinh.<ref name="Xinhai.org p.3">{{zh icon}} [http://www.xinhai.org/yanjiu/191101189_3.htm 胡绳武 "民国元年定都之争" ''民国档案'' p. 3] 2010-12-08</ref> Viên Thế Khải nghênh tiếp phái đoàn và đồng ý đi cùng với các đại biểu về phía nam.<ref name="Xinhai.org p.4">{{zh icon}} [http://www.xinhai.org/yanjiu/191101189_4.htm 胡绳武 "民国元年定都之争" ''民国档案'' p. 4] 2010-12-08</ref> Vào đêm ngày 29 tháng 2, các vụ bạo động và phóng hỏa xảy ra trên khắp Bắc Kinh.<ref name="Xinhai.org p.4"/> Đội quân bất phục tùng của [[Tào Côn]] (một sĩ quan trung thành với Viên Thế Khải) được quy trách nhiệm khởi đầu sự việc.<ref name="Xinhai.org p.4"/> Rối loạn trong hàng ngũ quân đội lan đến Thông Châu, Thiên Tân và Bảo Định.<ref name="Xinhai.org p.4"/> Viên Thế Khải lấy các sự kiện này làm lý do để ở lại miền Bắc nhằm chỉ đạo chống lại tình trạng bất ổn. Vào ngày 10 tháng 3, Viên Thế Khải làm lễ tấn phong chức Đại tổng thống lâm thời của Trung Hoa Dân Quốc tại Bắc Kinh.<ref name="Xinhai.org p.2">{{zh icon}} [http://www.xinhai.org/yanjiu/191101189_3.htm 胡绳武 "民国元年定都之争" ''民国档案'' p. 2] 2010-12-08</ref> Viên Thế Khải đặt văn phòng điều hành và dinh thự tại [[Trung Nam Hải]], cạnh Tử Cấm Thành. Ngày 5 tháng 4, Nghị viện Lâm thời tại Nam Kinh bỏ phiếu bỏ phiếu chọn Bắc Kinh làm thủ đô của Dân Quốc và tụ họp tại Bắc Kinh vào cuối tháng đó.
Vào tháng 8, Tôn Trung Sơn đến Bắc Kinh, ông được [[Viên Thế Khải]] và một đám đông hàng nghìn người chào đón.<ref>[[#Strand 2002|Strand 2002]]: 58-59</ref> Tại [[Hồ Quảng hội quán]], [[Đồng Minh hội]] do Tôn Trung Sơn, Hoàng Hưng và [[Tống Giáo Nhân]] lãnh đạo hợp với một số chính đảng nhỏ hơn để thành lập [[Trung Quốc Quốc Dân Đảng|Quốc Dân đảng]].<ref>[[#Strand 2002|Strand 2002]]: 58</ref> Cuộc bầu cử quốc hội được tổ chức lần đầu tiên từ tháng 12 năm 1912 đến tháng 1 năm 1913, nam giới trên 21 tuổi được tiếp nhận giáo dục hay có tài sản đủ lớn, trả thuế, và có thể chứng minh cư trú hai năm ở một huyện có thể bỏ phiếu.<ref>[[#Cambridge History Vol 12 Part 1|Cambridge History of China, Vol 12, Part 1]]: 222-223</ref> Một ước tính cho thấy 4-6% dân số Trung Quốc đăng ký tham gia bỏ phiếu.<ref name="CHC222">[[#Cambridge History Vol 12 Part 1|Cambridge History of China, Vol 12, Part 1]]: 222</ref> Quốc Dân đảng giành chiến thắng trong cả hai viện của Quốc hội, Quốc hội được triệu tập tại Bắc Kinh vào tháng 4 năm 1913.<ref name="CHC222"/>
 
Khi Quốc hội phê chuẩn hiến pháp, [[Viên Thế Khải]] chống lại các nỗ lực nhằm chia sẻ quyền lực. Không thông báo cho Quốc gội, [[Viên Thế Khải]] dàn xếp vay một khoản tiền lớn của ngoại quốc để dùng cho đội quân của mình. Khoản vay được ký kết tại Ngân hàng HSBC ở Đông Giao Dân Hạng, quyền thu thuế muối nằm trong tay ngoại quốc.<ref>[[#Cambridge History Vol 12 Part 1|Cambridge History of China, Vol 12, Part 1]]: 207, 211, 246</ref> Các đặc vụ của Viên Thế Khải ám sát lãnh tụ Quốc Dân đảng là Tống Giáo Nhân ở Thượng Hải.<ref>[[#Cambridge History Vol 12 Part 1|Cambridge History of China, Vol 12, Part 1]]: 224</ref> Đáp lại, Tôn Trung Sơn tiến hành [[Cách mạng Lần hai]] vào tháng 7 năm 1913, tuy nhiên Quốc Dân đảng thất bại và Tông Trung Sơn phải đi lưu vong. Sau đó, [[Viên Thế Khải]] buộc Quốc hội phải bầu ông làm Đại tổng thống và trục xuất các thành viên của Quốc Dân đảng. Vào đầu năm 1914, Viên Thế Khải giải tán Quốc hội và đến tháng 5 thì bãi bỏ Hiến pháp lâm thời.<ref>[[#Cambridge History Vol 12 Part 1|Cambridge History of China, Vol 12, Part 1]]: 242</ref> Ngày 23 tháng 12 năm 1915, Viên Thế Khải xưng đế, tức Hồng Hiến Đế, và chế độ của ông được gọi là [[Đế quốc Trung Hoa (1915-1916)|Đế quốc Trung Hoa]]. Việc [[Viên Thế Khải]] xưng đế châm ngòi cho [[Chiến tranh Hộhộ quốc]] khi các tỉnh phía nam nổi dậy. [[Viên Thế Khải]] buộc phải bướctrở xuốnglại chứclàm Tổngtổng thống vào tháng 3 năm 1916. [[Viên Thế Khải]] qua đời tại Bắc Kinh vào tháng 6 năm 1916, những sĩ quan xuất thân từ quân Bắc Dương cạnh tranh nhau quyền kiểm soát chính phủ. Trong 12 năm tiếp theo, [[chính phủ Bắc Dương]] đặt tại Bắc Kinh có không ít hơn 18 tổng thống, 5 quốc hội, 24 nội các, ít nhất 4 hiến pháp và sự kiện [[Trương Huân phục tịch|phục hồi nền quân chủ Mãn Thanh]] tồn tại hơn 10 ngày vào tháng 7 năm 1917.<ref>[[#Cambridge History Vol 12 Part 1|Cambridge History of China, Vol 12, Part 1]]: 307-308</ref>
 
Không giống như các giai đoạn thay đổi triều đại trước đây, việc nhà Thanh sụp đổ không khiến dân số Bắc Kinh suy giảm đáng kể, con số này là 785.442 vào năm 1910, 670.000 vào năm 1913 và 811.566 vào năm 1917.{{sfn|Han|1996|pp=137, 212}} Dân số khu vực xung quanh thành phố tăng từ 1,7 lên 2,9 trong cùng thời kỳ.{{sfn|Han|1996|p=137}}
 
=== Thế chiến thứ nhất và phong trào Ngũ Tứ ===
[[Tập tin:November 29 student demonstration, Tiananmen Square.jpg|nhỏ|phải|Cuộc biểu tình của sinh viên vào ngày 29 tháng 11 năm 1919, một phần trong [[phong trào Ngũ Tứ]]]]
Sau khi [[Viên Thế Khải]] qua đời, Lý Nguyên Hồng trở thành đại tổng thống còn [[Đoàn Kỳ Thụy]] trở thành quốc vụ tổng lý, Quốc hội được tái triệu tập. Chính phủ nhanh chóng phải đối diện với một cuộc khủng hoảng về việc nên về phe [[Hiệp Ước]] trong [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]] hay duy trì trung lập. Đoàn Kỳ Thụy ủng hộ tham gia chiến tranh song bị Lý Nguyên Hồng bác bỏ, quân phiệt [[Trương Huân]] được mời đến thủ đô để hòa giải. Trương Huân và đội quân bảo hoàng có bím tóc dài của ông tiến vào Bắc Kinh, giải tán Quốc hội và [[Trương Huân phục tịch|phục vị]] cho Phổ Nghi là hoàng đế triều Thanh vào ngày 1 tháng 7.<ref>[[#Cambridge History Vol 12 Part 1|Cambridge History of China, Vol 12, Part 1]]: 309</ref> Lý Nguyên Hồng chạy đến Sứ quán Nhật Bản. Triều đình phục hưng tồn tại trong 12 ngày cho đến khi quân của Đoàn Kỳ Thụy tái chiếm thủ đô, Trương Huân phải chạy đến Sứ quán Hà Lan tị nạn. Theo lệnh của Đoàn Kỳ Thụy, Trung Quốc tuyên chiến với phe [[Liên minh Trung tâm|Đồng Minh]] và gửi 140.000 người lao động Trung Quốc đến làm việc tại [[Mặt trận phía Tây (Chiến tranh thế giới thứ nhất)|Mặt trận phía Tây]]. Với [[khoản vay Nishihara|hỗ trợ tài chính của Nhật Bản]], Đoàn Kỳ Thụy sau đó thiết kế cuộc cầu cử Nghị viện mới vào năm 1918, song những người ủng hộ của Đoàn Kỳ Thụy xuất thân từ [[Hoàn hệ]] được sắp xếp trúng cử, chính phủ này vì thế còn được gọi là An Phủ (Hoàn là giản xưng của tỉnh An Huy).
 
Vào mùa xuân năm 1919, Trung Hoa Dân Quốc với vị thế là nước thắng trận cử một phái đoàn đến [[Hội nghị Hòa bình Paris, 1919|Hội nghị Hòa bình Paris]] nhằm yêu cầu được trao trả [[Tô tá địa vịnh Giao Châu|nhượng địa của Đức]] tại [[Sơn Đông]]. Tuy nhiên, [[Hòa ước Versailles]] lại trao lãnh thổ đó cho Nhật Bản. Tin tức về hòa ước gây phẫn nộ tại thủ đô Trung Quốc. Ngày 4 tháng 5, 3.000 sinh viên đến từ 13 trường đại học ở Bắc Kinh tập hợp tại [[quảng trường Thiên An Môn]], khởi đầu [[Phong trào Ngũ Tứ]] để phản đối sự phản bội với Trung Quốc của các cường quốc Tây phương phản bội Trung Quốc và nạn tham nhũng của An Phủ được Nhật Bản hỗ trợ tài chính. Họ tiến về phía các sứ quán ngoại quốc song bị chặn và chuyển sang tiến về tư gia của phó Bộ trưởng Ngoại giao [[Tào Nhữ Lâm]], đâyngườinhân vật tham dự Hội nghị hòa bình và được xem là thân Nhật. Các sinh viên san bằng dinh thự của Tào Nhữ Lâm và đánh đập [[Chương Tông Tường]]- một nhà ngoại giao thân Nhật khác là [[Chương Tông Tường]]. Cảnh sát bắt giữ 32 sinh viên, và trong vòng một tuần, phong trào lan ra 200 thành thị thuộc 22 tỉnh. Đến cuối tháng 6, chính phủ Trung Quốc cam kết không ký kết hòa ước, bãi chức Tào Nhữ Lâm và Chương Tông Tường và phóng thích các sinh viên bị bắt.
 
===Chính phủ Bắc Dương===
[[Tập tin:NRA Generals Northern Expedition.jpg|nhỏ|phải|Sau khi đoạt được Bắc Kinh trong [[Bắc phạt]], các lãnh tụ Quốc Dân đảng do [[Tưởng Giới Thạch]] đứng đầu tập hợp tại [[Bích Vân tự]] vào ngày 6 tháng 7 năm 1928, mục đích là để tỏ lòng tôn kính Tôn Trung Sơn]]
 
Vào thập niên 1920, quân Bắc Dương vốn hùng mạnh bị phân chia thành các bè phái và tranh giành quyền kiểm soát chính phủ Quốc dân cũng như thủ đô. Do suy yếu sau [[phong trào Ngũ Tứ]] năm 1919, vào tháng 7 năm 1920, chính phủ của [[Đoàn Kỳ Thụy]] bị [[Trực hệ]] của [[Ngô Bội Phu]] và [[Tào Côn]] đẩy ra khỏi Bắc Kinh trong [[chiến tranh Trực-Hoàn]]. Hai năm sau, Trực hệ phải giao chiến với [[Phụng hệ]] ở [[Mãn Châu]] do [[Trương Tác Lâm]] lãnh đạo trong [[Chiến tranh Trực-Phụng lần thứ nhất]]. Khi hai bên lại giao chiến trong [[Chiến tranh Trực-Phụng lần thứ hai]] vào năm 1924, một sĩ quan của Ngô BộBội Phu là [[Phùng Ngọc Tường]] phát động [[Chính biến Bắc Kinh]]. Vào ngày 23 tháng 10 năm 1924, Phùng Ngọc Tường chiếm được thủ đô, giam cầm đại tổng thống Tào Côn, phục vị nguyên thủ quốc gia cho Đoàn Kỳ Thụy và mời Tôn Trung Sơn đến Bắc Kinh để hòa đàm. Khi đó, Tôn Trung Sơn đang xây dựng một chính phủ Quốc dân tại Quảng Châu với sự trợ giúp của [[Đệ tam Quốc tế]] và sự ủng hộ của [[Đảng Cộng sản Trung Quốc|Trung Quốc Cộng sản đảng]]. Tôn Trung Sơn bị bệnh ung thư khi ông đến Bắc Kinh vào đầu năm 1925 trong nỗ lực cuối cùng của ông nhằm hòa giải đối địch bắc-nam. Ông được hàng trăm tổ chức dân sự chào đón, và kêu gọi xây dựng một chính phủ thống nhất. Tôn Trung Sơn qua đời tại Bắc Kinh vào ngày 12 tháng 3 năm 1925, được an táng tại [[Bích Vân tự]].
 
Trương Tác Lâm và Ngô Bội Phu hợp binh chống lại Phùng Ngọc Tường (là người dựa vào sự ủng hộ của [[Liên Xô]]). Phùng Ngọc Tường có lập trường thân Quốc Dân đảng và Cộng sản đảng, cũng là các lực lượng có ảnh hưởng tại thành phố. Trong thời kỳ này, Bắc Kinh là nơi các hoạt động sinh viên phát triển mạnh. Trong [[Phong trào Ngũ Tạp]] vào năm 1925, có 12.000 sinh viên từ 90 trường học diễu hành qua [[Vương Phủ Tỉnh]] đến Thiên An Môn để ủng hộ những người kháng nghị tại Thượng Hải.<ref name="Strand 182">[[#Strand 1993|Strand 1993]]: 182</ref> Với việc mở các trường học tư như [[Đại học Yên Kinh]] vào năm 1919 và [[Đại học Công giáo Phụ Nhân|Đại học Phụ Nhân]] vào năm 1925, số lượng sinh viên tại Bắc Kinh gia tăng đáng kể vào đầu thập niên 1920.<ref name="Strand 182"/> Các học sinh trung học cũng tham gia vào các hoạt động kháng nghị.<ref name="Strand 182"/> Vào tháng 10, các sinh viên kháng nghị chủ nghĩa đế quốc trong một hội nghị quốc tế về hải quan và thuế quan được tổ chức tại thành phố.<ref name="Strand 192">[[#Strand 1993|Strand 1993]]: 192</ref> Vào tháng 11, [[Lý Đại Chiêu]] tổ chức một cuộc biểu tình gồm sinh viên và công nhân để yêu cầu Đoàn Kỳ Thụy từ chức. Cuộc biểu tình biến thành bạo lực, những người biểu tình đốiđốt cháy các tòa soạn báo lớn, và bị giải tán.<ref>Zheng Yuan, "The Capital Revolution: a Case Study of Chinese Student Movements in the 1920s." ''Journal of Asian History'' 2004 38(1): 1-26. Issn: 0021-910x</ref>
 
Mặc dù Quốc Dân đảng dưới sự lãnh đạo của Tôn Trung Sơn liên minh với những người cộng sản trong cuộc đấu tranh với các quân phiệt, song liên mình không tránh khỏi căng thẳng. Vào tháng 11 năm 1925, một nhóm hữu khuynh trong hàng ngũ lãnh đạo Quốc Dân đảng hội đàm tại Tây Sơn Bắc Kinh và kêu gọi trục xuất những người cộng sản ra khỏi Quốc Dân đảng và cắt đứt các quan hệ với Đệ tam quốc tế, bao gồm cả cố vấn [[Mikhail Borodin]].<ref name="Strand 192"/><ref>[[#Cambridge History Vol 12 Part 1|Cambridge History of China, Vol 12, Part 1]]: 558</ref> Trung ương đảng của Quốc Dân đảng tại Quảng Châu do [[Tưởng Giới Thạch]], Uông Tinh Vệ và [[Hồ Hán Dân]] lãnh đạo phản đối kịch liệt bản tuyên ngôn này, và các thành viên của "nhóm Tây Sơn" bị trục xuất khỏi đảng hoặc bị bãi nhiệm các chức vụ lãnh đạo đảng.<ref>[[#Cambridge History Vol 12 Part 1|Cambridge History of China, Vol 12, Part 1]]: 558-559</ref>
 
Ngày 17 tháng 3 năm 1926, ''[[Quốc Dân quân]]'' của Phùng Ngọc Tường tại [[pháo đài Đại Cô]] gần Thiên Tân đọ súng vớvới tàu chiến Nhật Bản trởchở quân Phụng hệ của Trương Tác Lâm. Nhật Bản cáo buộc chính phủ Trung Quốc vi phạm [[Điều ước Tân Sửu]], và cùng với bảy cường quốc khác ra tối hậu thư yêu cầu loại bỏ tất cả các căn cứ phòng thủ giữa Bắc Kinh và biển theo quy định trong Điều ước. Tối hậu thư châm ngòi cho các cuộc biểu tình của sinh viên ở Bắc Kinh, phối hợp tổ chức với các thành viên tả khuynh trong Quốc Dân đảng và Cộng sản đảng. Hai nghìn sinh viên diễu hành đến văn phòng hành chính của Đoàn Kỳ Thụy và kêu gọi bãi bỏ các điều ước bất bình đẳng.<ref name="CHC570"/> Cảnh sát khai hỏa vào đám đông và khiến 50 người thiệt mạng và 200 người bị thương, sự kiện này được gọi là [[Thảm án Tam Nhất Bát]].<ref>[[#Strand 1993|Strand 1993]]: 193-194</ref> Chính phủ ra trát bắt giữ các đảng viên Quốc Dân đảng và Cộng sản đảng, trong đó có Lý Đại Chiêu- người chạy vào Sứ quán Liên Xô.<ref name="CHC570">[[#Cambridge History Vol 12 Part 1|Cambridge History of China, Vol 12, Part 1]]: 570</ref> Trong nhiều tuần lễ, quân của Phùng Ngọc Tường chiến bại trước quân của Trương Tác Lâm, nội các của Đoàn Kỳ Thụy sụp đổ. Sau khi Trương Tác Lâm đoạt lấy quyền lực vào ngày 1 tháng 5 năm 1926, cả Quốc Dân đảng và Cộng sản đảng đều chuyển sang hoạt động bí mật.<ref>[[#Strand 1993|Strand 1993]]: 223-224</ref> Một năm sau, Trương Tác Lâm cho quân tiến vào Sứ quán Liên Xô và bắt giữ Lý Đại Chiêu. Lý Đại Chiêu cùng 19 nhà hoạt động cộng sản và quốc dân bị hành quyết tại Bắc Kinh vào ngày 25 tháng 4 năm 1927.
 
Trương Tác Lâm kiểm soát chính phủ Bắc Dương cho đến tháng 6 năm 1928, khi Quốc Dân đảng do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo cùng các đồng minh [[Diêm Tích Sơn]] và Phùng Ngọc Tường [[Bắc phạt]], tiến vào Bắc Kinh. Bắc Kinh được chuyển giao một cách hòa bình cho Quốc Dân đảng.<ref>[[#Cambridge History Vol 12 Part 1|Cambridge History of China, Vol 12, Part 1]]: 712</ref> Quốc Dân đảng chuyển thủ đô và [[lăng Tôn Trung Sơn]] đến Nam Kinh. Lần đầu tiên kể từ năm 1421, Bắc Kinh bị đổi tên thành '''Bắc Bình''',<ref>[[#MacKerras|MacKerras 1991]]: 8</ref> Thành phố trở thành tỉnh lị của tỉnh [[Hà Bắc (Trung Quốc)|Hà Bắc]] song địa vị này cũng bị mất về tay Thiên Tân vào năm 1930. Trong [[Đại chiến Trung Nguyên đại chiến]] năm 1930, quân phiệt Thiểm Tây Diêm Tích Sơn chiếm được Bắc Bình trong một thời gian ngắn và thiết lập một chính phủ Quốc dân kình địch, song sau đó để mất thành phố về tay [[Trương Học Lương]]- một đồng minh của Tưởng Giới Thạch là [[Trương Học Lương]].<ref name="Dong 124"/>
 
=== Phát triển đô thị trong thập niên 1920 ===
| width2 = 180
| caption2 = }}
Sau khi [[Sự kiện Phụng Thiên|Nhật Bản chiếm MãnĐông ChâuBắc]] năm 1931, Bắc Bình bị đe dọa từ sự xâm lấm của người Nhật. [[Hiệp định Đường Cơ]] vào năm 1933 trao quyền kiểm soát Trường Thành cho Nhật Bản, và một khu phi quân sự 100-km phía nam Trường Thành được lập ra, tước đoạt khả năng phòng thủ phía bắc của Bắc Kinh. [[Hiệp định Hà Khâm-Umezu]] bí mật được ký kết vào tháng 5 năm 1935, theo đó yêu cầu chính phủ Trung Quốc triệt thoái các đơn vị [[Quốc dân Cách mạng quân|Quốc quân]] khỏi tỉnh Hà Bắc và ngăn chặn các hoạt động chống Nhật của quần chúng Trung Quốc.<ref>[[#Dryburgh|Dryburgh 2000]]: 149</ref> [[Hiệp định Tần Đức Thuần-Doihara]] vào tháng 6 năm 1935 buộc quân đoàn 29, một đơn vị cũ của ''[[Quốc Dân quân]]'', phải di chuyển từ [[Sát Cáp Nhĩ (tỉnh)|tỉnh Sát Cáp Nhĩ]] đến khu vực phía nam Bắc Bình, gần Nam Uyển.<ref>[[#Dryburgh|Dryburgh 2000]]: 44</ref> Vào tháng 11 năm 1935, người Nhật dựng lên một chính phủ bù nhìn đặt tại [[Thông Châu]] gọi là [[Chính phủ Tự trị Phòng cộng Kí Đông]], tuyên bố độc lập với chính phủ Trung Hoa Dân Quốc và kiểm soát 22 huyện phía đông Bắc Bình, bao gồm Thông Châu và Bình Cốc thuộc địa giới Bắc Kinh hiện nay.
 
Trước tình thế ngày càng căng thẳng, bộ sưu tập nghệ thuật của Bảo tàng Cố cung Quốc lập được di dời đến Nam Kinh vào ngày 1934 và nơi trú ẩn phòng không được xây dựng tại Trung Nam Hải.<ref>[[#Dong 2002|Dong 2002]]: 122, 124</ref> Dòng người tị nạn từ MãnĐông ChâuBắc và sự hiện diện của các trường đại học biến Bắc Bình trở thành một lò lửa của tình cảm chống Nhật. Ngày 9 tháng 12 năm 1935, các sinh viên tại Bắc Bình phát động [[phong trào Nhất Nhị Cửu]] để phản đối [[Uỷ ban Chính vụ Kí-Sát]] (một chính phủ bù nhìn khác) và kêu gọi vệ quốc.
 
Vào ngày 7 tháng 7 năm 1937, quân đoàn 29 của Trung Quốc và [[Chi Na trú đồn quân]] của Nhật Bản đọ súng tại [[cầu Lư Câu|Lư Câu Kiều]] gần [[Uyển Bình thành]] ở tây nam Bắc Bình. [[Sự kiện Lư Câu Kiều]] gây ra [[Chiến tranh Trung-Nhật]]. Đến cuối tháng 7, quân tiếp viện của Nhật Bản với sự hỗ trợ của không quân [[tác chiến Bình-Tân|tiến công toàn diện]] vào Bắc Kinh và Thiên Tân. Trong khi giao chiến ở phía nam Bắc Bình, phó chỉ huy trưởng quân đoàn 29 là [[Đông Lân Các]] và sư đoàn trưởng [[Triệu Đăng Vũ]] đều tử chiến. Họ cùng với [[Trương Tự Trung]], một sư đoàn trưởng khác của quân đoàn 29 là ba nhân vật hiện đại duy nhất được dùng tên để đặt cho các tuyến phố tại Bắc Kinh ngày nay. Tại Thông Châu, lực lượng dân quân của Chính phủ Tự trị Phòng cộng Kí Đông từ chối hợp binh với người Nhật để tiến công quân đoàn 29, và còn tiến hành [[sự kiện Thông Châu|nổi dậy]] chống Nhật, song các lực lượng Trung Quốc phải triệt thoái về phía nam.<ref name="columbia encyclopedia">{{cite encyclopedia|title=Beijing|url=http://www.bartleby.com/65/be/Beijing.html|encyclopedia=[[The Columbia Encyclopedia]]|edition=6th|year=2007}}</ref><ref>{{chú thích báo|title=Incident on ngày 7 tháng 7 năm 1937|url=http://news.xinhuanet.com/english/2005-06/27/content_3141055.htm|agency=Xinhua News Agency|date=2005-06-27|accessdate=2008-06-20}}</ref> Tuy nhiên, Bắc Bình không phải chịu cảnh giao chiến trong đô thị và không bị phá hủy nhiều như các thành phố khác tại Trung Quốc.
 
Người Nhật lập ra một chế độ bù nhìn khác là [[Chính phủ Lâm thời Trung Hoa Dân Quốc (1937-1940)|Chính phủ Lâm thời Trung Hoa Dân Quốc]], để quản lý vùng lãnh thổ chiếm được ở miền Bắc Trung Quốc, đổi tên Bắc Bình thành Bắc Kinh và lập làm thủ đô.<ref name="Li, Dray-Novey & Kong 166">[[#Li, Dray-Novey & Kong|Li, Dray-Novey & Kong 2007]]: 166</ref> Chính phủ này sau đó hợp nhất với [[Chính phủ Uông Tinh Vệ|chính phủ]] của [[Uông Tinh Vệ]] đặt tại Nam Kinh, mặc dùsong quyền kiểm soát thực tế nằm trong tay quân đội Nhật Bản.<ref name="Li, Dray-Novey & Kong 166"/> Trong chiến tranh, Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa được sơ tán đến các khu vực không bị chiếm đóng và thành lập nên [[Đại học Liên hiệp Quốc lập Tây Nam]]. Đại học PhụcPhụ Nhân được [[Tòa thánh Vatican]] (trung lập) bảo hộ. Sau khi bùng nổ [[Chiến tranh Thái Bình Dương]] với việc Nhật Bản [[trận Trân Châu Cảng|tấn công Trân Châu Cảng]] vào tháng 12 năm 1941, quân Nhật đóng cửa Đại học Yên Kinh và giam cầm các nhân viên người Mỹ của đại học này. Một số người được du kích cộng sản ở những vùng nông thôn xa xôi cứu giúp. Thôn Tiêu Trang Hộ ở Thuận Nghĩa vẫn còn giữ lại một mê cung gồm các đường hầm dưới lòng đất với các sở chỉ huy, phòng họp và lối đi ngụy trang từ thời chiến tranh.<ref>[http://www.oldbeijing.net/Article/Class1/Class22/9606.html "Memorial Museum of Tunnel Warfare Sites at Jiaozhuanghu Village" ''OldBeijing.net''] Truy cập 23 tháng 8 năm 2011</ref>
 
Ngày 10 tháng 10 năm 1945, thời gian chiếm đóng Bắc Bình của Nhật Bản chấm dứt với việc quân đội Nhật Bản chính thức đầu hàng Quốc quân Trung Hoa Dân Quốc trong một buổi lễ tại Tử Cấm Thành.<ref>{{zh icon}} [http://www.oldbeijing.net/Article/Class1/Class22/9606.html "北平日本投降仪式亲历"] Truy cập 2011-08-21</ref> Kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, thành phố chuyển sang thuộc quyền kiểm soát của Chính phủ Quốc dân và được đổi tên thành Bắc Bình.
Quốc Dân đảng và [[Đảng Cộng sản Trung Quốc|Cộng sản đảng]] là đồng minh trong chiến tranh Trung-Nhật, song họ tiếp tục tranh chấp sau khi Nhật Bản đầu hàng. Để ngăn chặn tái diễn [[nội chiến Trung Quốc|nội chiến]], chính phủ Hoa Kỳ phái [[George C. Marshall]] đến Trung Quốc để hòa giải.<ref>{{chú thích sách |last1= Fairbank|first1= John K|authorlink1= John Fairbank|last2= Goldman|first2= Merle|title= China: A New History|url=http://books.google.com/?id=nBDC2cqb6I0C&pg=PA330&lpg=PA330&dq=george+marshall+negotiations+in+peking#v=onepage&q&f=false|accessdate= ngày 22 tháng 8 năm 2011|year= 2006|publisher= Harvard University Press|isbn=0-674-01828-1|page=133|ref= }}</ref> [[Sứ mệnh Marshall]] đặt trụ sở chính tại Bắc Bình, tại đây một thỏa thuận ngừng bắn được mở ra vào ngày 10 tháng 1 năm 1946, và một ủy ban gồm ba người: một đại diện Quốc Dân đảng, một đại diện Cộng sản đảng và một đại diện Hoa Kỳ, được thành lập để điều tra các hành vi vi phạm thỏa thuận ngừng bắn ở Hoa Bắc và Mãn Châu.<ref>{{chú thích sách |last1= Caughey|first1= John Hart|last2= Jeans|first2= Roger B|title= The Marshall Mission to China, 1945–1947: The Letters and Diary of Colonel John Hart Caughey|url=http://books.google.com/?id=y9StKuHht_4C&pg=PT344&dq=marshall+jianying#v=onepage&q=%22committee%20of%20three%22&f=false|accessdate= ngày 22 tháng 8 năm 2011|year= 2011|publisher= Rowman & Littlefield|isbn=1-4422-1294-2|page=|ref= }}</ref> Thỏa thuận ngừng bắn bắt đầu tan vỡ vào tháng 6 năm 1946 và sứ mệnh Marshall cuối cùng thất bại trong việc tạo ra một chính phủ liên minh. Sau khi Marshall ra đi vào tháng 2 năm 1947, nội chiến toàn diện nổ ra.
 
Các hoạt động quân sự của lực lượng Quốc Dân đảng tại miền Bắc Trung Quốc do [[Phó Tác Nghĩa]]- người chỉ huy 55 vạn quân- lãnh đạo, có trụ sở đặt tại Bắc Bình. Vào năm 1948, thành phố có 1,5 triệu cư dân và 4,1 triệu cư dân ở khu vực xung quanh.{{sfn|Han|1996|p=137}}<ref group=Note name=HistoricalCensus/> Sau khi chiến thắng trong [[chiến dịch Liêu Thẩm]], vào ngày 29 tháng 11 năm 1948, [[Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc]] tiến hành [[chiến dịch Bình Tân]]. Giải phóng quân chiếm [[Trương Gia Khẩu]] ở phía tây bắc Bắc Bình vào ngày 24 tháng 12, chiếm Thiên Tân vào ngày 15 tháng 1 năm 1949. Với việc lực lượng Quốc Dân đảng thất bại trong [[chiến dịch Hoài Hải]] ở xa về phương Nam, Phó Tác Nghĩa và trên 20 vạn quân Quốc Dân đảng bị bao vây tại Bắc Kinh. Sau nhiều tuần thương lượng, vào ngày 22 tháng 1 năm 1949, Phó Tác Nghĩa rút quân đội khỏi thành phố để "tái tổ chức". Hành động đào ngũ của Phó Tác Nghĩa khiến thành phố, các cư dân và kiến trúc lịch sử của Bắc Bình khỏi bị hủy diệt. Ngày 3 tháng 2 năm đó, Giải phóng quân tiến vào Bắc Bình.
 
Vào mùa xuân năm 1949, lãnh đạo Quốc Dân đảng [[Lý Tông Nhân]] tiến hành nỗ lực cuối cùng nhằm bảo đảm một thỏa thuận ngừng bắn. Các cuộc hòa đảm được tổ chức tại Bắc Bình từ ngày 1 đến 12 tháng 4, song Cộng sản đảng không chấp nhận dừng lại ở [[Trường Giang]] và thừa nhận miền Nam do Quốc Dân đảng quản lý.<ref>{{zh icon}} [http://www.oldbeijing.net/Article/Class1/Class67/15566.html "1949年国共和平谈判会场六国饭店轶闻"] Truy cập 22 tháng 8 năm 2011</ref> Giải phóng quân tiếp tục giành được thêm quyền kiểm soát phần còn lại của quốc gia, các nhà lãnh đạo Cộng sản đảng, [[Ủy ban cách mạng Quốc dân đảng Trung Quốc|các thành viên phái tả trong Quốc Dân đảng]], và những người ủng hộ bên thứ ba tập hợp tại [[Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc]] ở Trung Nam Hải vào ngày 21 tháng 9. Để chuẩn bị cho việc thành lập một chế độ mới, họ thông qua quốc hiệu, quốc kỳ, quốc huy và quốc ca và thủ đô.