Khác biệt giữa các bản “Lịch sử Bắc Kinh”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
n
[[Tập tin:NRA Generals Northern Expedition.jpg|nhỏ|phải|Sau khi đoạt được Bắc Kinh trong [[Bắc phạt]], các lãnh tụ Quốc Dân đảng do [[Tưởng Giới Thạch]] đứng đầu tập hợp tại [[Bích Vân tự]] vào ngày 6 tháng 7 năm 1928, mục đích là để tỏ lòng tôn kính Tôn Trung Sơn]]
 
Vào thập niên 1920, quân Bắc Dương vốn hùng mạnh bị phân chia thành các bè phái và tranh giành quyền kiểm soát chính phủ Quốc dân cũng như thủ đô. Do suy yếu sau [[phong trào Ngũ Tứ]] năm 1919, vào tháng 7 năm 1920, chính phủ của [[Đoàn Kỳ Thụy]] bị [[Trực hệ]] của [[Ngô Bội Phu]] và [[Tào Côn]] đẩy ra khỏi Bắc Kinh trong [[chiến tranh Trực-Hoàn]]. Hai năm sau, Trực hệ phải giao chiến với [[Phụng hệ]] ở [[Mãn Châu]] do [[Trương Tác Lâm]] lãnh đạo trong [[Chiến tranh Trực-Phụng lần thứ nhất]]. Khi hai bên lại giao chiến trong [[Chiến tranh Trực-Phụng lần thứ hai]] vào năm 1924, một sĩ quan của Ngô Bội Phu là [[Phùng Ngọc Tường]] phát động [[Chính biến Bắc Kinh]]. Vào ngày 23 tháng 10 năm 1924, Phùng Ngọc Tường chiếm được thủ đô, giam cầm đại tổng thống Tào Côn, phục vị nguyên thủ quốc gia cho Đoàn Kỳ Thụy và mời Tôn Trung Sơn đến Bắc Kinh để hòa đàm. Khi đó, Tôn Trung Sơn đang xây dựng một chính phủ Quốc dân tại Quảng Châu với sự trợ giúp của [[Đệ tam Quốc tế]] và sự ủng hộ của [[Đảng Cộng sản Trung Quốc|Trung Quốc Cộng sản đảng]]. Tôn Trung Sơn bị bệnh ung thư khi ông đến Bắc Kinh vào đầu năm 1925 trong nỗ lực cuối cùng của ông nhằm hòa giải đối địch bắc-nam. Ông được hàng trăm tổ chức dân sự chào đón, và kêu gọi xây dựng một chính phủ thống nhất. Tôn Trung Sơn qua đời tại Bắc Kinh vào ngày 12 tháng 3 năm 1925, được an táng tại [[Bích Vân tự]].
 
Trương Tác Lâm và Ngô Bội Phu hợp binh chống lại Phùng Ngọc Tường (là người dựa vào sự ủng hộ của [[Liên Xô]]). Phùng Ngọc Tường có lập trường thân Quốc Dân đảng và Cộng sản đảng, cũng là các lực lượng có ảnh hưởng tại thành phố. Trong thời kỳ này, Bắc Kinh là nơi các hoạt động sinh viên phát triển mạnh. Trong [[Phong trào Ngũ Tạp]] vào năm 1925, có 12.000 sinh viên từ 90 trường học diễu hành qua [[Vương Phủ Tỉnh]] đến Thiên An Môn để ủng hộ những người kháng nghị tại Thượng Hải.<ref name="Strand 182">[[#Strand 1993|Strand 1993]]: 182</ref> Với việc mở các trường học tư như [[Đại học Yên Kinh]] vào năm 1919 và [[Đại học Công giáo Phụ Nhân|Đại học Phụ Nhân]] vào năm 1925, số lượng sinh viên tại Bắc Kinh gia tăng đáng kể vào đầu thập niên 1920.<ref name="Strand 182"/> Các học sinh trung học cũng tham gia vào các hoạt động kháng nghị.<ref name="Strand 182"/> Vào tháng 10, các sinh viên kháng nghị chủ nghĩa đế quốc trong một hội nghị quốc tế về hải quan và thuế quan được tổ chức tại thành phố.<ref name="Strand 192">[[#Strand 1993|Strand 1993]]: 192</ref> Vào tháng 11, [[Lý Đại Chiêu]] tổ chức một cuộc biểu tình gồm sinh viên và công nhân để yêu cầu Đoàn Kỳ Thụy từ chức. Cuộc biểu tình biến thành bạo lực, những người biểu tình đốt cháy các tòa soạn báo lớn, và bị giải tán.<ref>Zheng Yuan, "The Capital Revolution: a Case Study of Chinese Student Movements in the 1920s." ''Journal of Asian History'' 2004 38(1): 1-26. Issn: 0021-910x</ref>
| width2 = 180
| caption2 = }}
Sau khi [[Sự kiện Phụng Thiên|Nhật Bản chiếm Đông Bắc]] năm 1931, Bắc Bình bị đe dọa từ sự xâm lấm của người Nhật. [[Hiệp định Đường Cơ]] vào năm 1933 trao quyền kiểm soát Trường Thành cho Nhật Bản, và một khu phi quân sự 100-km phía nam Trường Thành được lập ra, tước đoạt khả năng phòng thủ phía bắc của Bắc Kinh. [[Hiệp định Hà Khâm-Umezu]] bí mật được ký kết vào tháng 5 năm 1935, theo đó yêu cầu chính phủ Trung Quốc triệt thoái các đơn vị [[Quốc dân Cách mạng quân|Quốc quân]] khỏi tỉnh Hà Bắc và ngăn chặn các hoạt động chống Nhật của quần chúng Trung Quốc.<ref>[[#Dryburgh|Dryburgh 2000]]: 149</ref> [[Hiệp định Tần Đức Thuần-Doihara]] vào tháng 6 năm 1935 buộc quân đoàn 29, một đơn vị cũ của ''[[Quốc Dân quân]]'', phải di chuyển từ [[Sát Cáp Nhĩ (tỉnh)|tỉnh Sát Cáp Nhĩ]] đến khu vực phía nam Bắc Bình, gần Nam Uyển.<ref>[[#Dryburgh|Dryburgh 2000]]: 44</ref> Vào tháng 11 năm 1935, người Nhật dựng lên một chính phủ bù nhìn đặt tại [[Thông Châu]] gọi là [[Chính phủ Tự trị Phòng cộng Kí Đông]], tuyên bố độc lập với chính phủ Trung Hoa Dân Quốc và kiểm soát 22 huyện phía đông Bắc Bình, bao gồm Thông Châu và Bình Cốc thuộc địa giới Bắc Kinh hiện nay.
 
Trước tình thế ngày càng căng thẳng, bộ sưu tập nghệ thuật của Bảo tàng Cố cung Quốc lập được di dời đến Nam Kinh vào ngày 1934 và nơi trú ẩn phòng không được xây dựng tại Trung Nam Hải.<ref>[[#Dong 2002|Dong 2002]]: 122, 124</ref> Dòng người tị nạn từ Đông Bắc và sự hiện diện của các trường đại học biến Bắc Bình trở thành một lò lửa của tình cảm chống Nhật. Ngày 9 tháng 12 năm 1935, các sinh viên tại Bắc Bình phát động [[phong trào Nhất Nhị Cửu]] để phản đối [[Uỷ ban Chính vụ Kí-Sát]] (một chính phủ bù nhìn khác) và kêu gọi vệ quốc.
Các hoạt động quân sự của lực lượng Quốc Dân đảng tại miền Bắc Trung Quốc do [[Phó Tác Nghĩa]]- người chỉ huy 55 vạn quân- lãnh đạo, có trụ sở đặt tại Bắc Bình. Vào năm 1948, thành phố có 1,5 triệu cư dân và 4,1 triệu cư dân ở khu vực xung quanh.{{sfn|Han|1996|p=137}}<ref group=Note name=HistoricalCensus/> Sau khi chiến thắng trong [[chiến dịch Liêu Thẩm]], vào ngày 29 tháng 11 năm 1948, [[Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc]] tiến hành [[chiến dịch Bình Tân]]. Giải phóng quân chiếm [[Trương Gia Khẩu]] ở phía tây bắc Bắc Bình vào ngày 24 tháng 12, chiếm Thiên Tân vào ngày 15 tháng 1 năm 1949. Với việc lực lượng Quốc Dân đảng thất bại trong [[chiến dịch Hoài Hải]] ở xa về phương Nam, Phó Tác Nghĩa và trên 20 vạn quân Quốc Dân đảng bị bao vây tại Bắc Kinh. Sau nhiều tuần thương lượng, vào ngày 22 tháng 1 năm 1949, Phó Tác Nghĩa rút quân đội khỏi thành phố để "tái tổ chức". Hành động đào ngũ của Phó Tác Nghĩa khiến thành phố, các cư dân và kiến trúc lịch sử của Bắc Bình khỏi bị hủy diệt. Ngày 3 tháng 2 năm đó, Giải phóng quân tiến vào Bắc Bình.
 
Vào mùa xuân năm 1949, lãnh đạo Quốc Dân đảng [[Lý Tông Nhân]] tiến hành nỗ lực cuối cùng nhằm bảo đảm một thỏa thuận ngừng bắn. Các cuộc hòa đảmđàm được tổ chức tại Bắc Bình từ ngày 1 đến 12 tháng 4, song Cộng sản đảng không chấp nhận dừng lại ở [[Trường Giang]] và thừa nhận miền Nam do Quốc Dân đảng quản lý.<ref>{{zh icon}} [http://www.oldbeijing.net/Article/Class1/Class67/15566.html "1949年国共和平谈判会场六国饭店轶闻"] Truy cập 22 tháng 8 năm 2011</ref> Giải phóng quân tiếp tục giành được thêm quyền kiểm soát phần còn lại của quốc gia, các nhà lãnh đạo Cộng sản đảng, [[Ủy ban cách mạng Quốc dân đảng Trung Quốc|các thành viên phái tả trong Quốc Dân đảng]], và những người ủng hộ bên thứ ba tập hợp tại [[Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc]] ở Trung Nam Hải vào ngày 21 tháng 9. Để chuẩn bị cho việc thành lập một chế độ mới, họ thông qua quốc hiệu, quốc kỳ, quốc huy và quốc ca và thủ đô.
 
== Thời Cộng hòa Nhân dân ==
{{multiple image
| publisher = Springer | year = 1991 | page = 75| url = http://books.google.com/books?id=eJfXg7zRSe0C&pg=PA75&dq=beijing+prostitution&hl=en&sa=X&ei=71C0UNflKsqw0AGd7oHoDQ&ved=0CC0Q6AEwAA#v=onepage&q=beijing%20prostitution&f=false | isbn = 0306438607, 9780306438608}}</ref>]]
 
Các nhà lãnh đạo cộng sản nhanh chóng thiết lập một trật tự mới tại Bắc Kinh. Trong vòng vài tuần sau khi thành lập chính phủ mới, mại dâm bị cấm tại thành phố. Khoảng 224 nhà thổ bị đóng cửa và 1.308 gái mại dâm được đưa đến các trung tâm cải tạo, nơitại đó họ được điều trị y tế và đào tạo lại nghề nghiệp.<ref>{{Citation| last = Biddulph | first = Sarah | title = Legal Reform and Administrative Detention Powers in China| publisher = Cambridge University Press | year = 2007 | pages = 71–72 | url = http://books.google.com/books?id=05LIXsi34BEC&pg=PA72&dq=beijing+brothel&hl=en&sa=X&ei=mEK0UOyJGIXW0QHbnIDYBw&ved=0CEUQ6AEwAw#v=onepage&q=beijing%20brothel&f=false | isbn = 9780521869409}}</ref> Việc sử dụng thuốc phiện bị cấm vào năm 1952.
 
Với việc chính phủ mới bãi bỏ các điều ước bất bình đẳng, các cường quốc bị tước bỏ đặc quyền dành cho đơn vị lính đồn trú và sứ quán ở Đông Giao Dân Hạng. Hoa Kỳ, Pháp và Hà Lan từ chối công nhận chính phủ mới nên họ bị buộc phải từ bỏ văn phòng lãnh sự và quân sự vào năm 1950.{{sfn|Hoare|1999|loc =70}} Liên Xô đàm phán để chuyển đến một đại sứ quán mới ở góc đông bắc thành cổ.{{sfn|Hoare|1999|loc =70}} Anh Quốc công nhận chính phủ mới, họ nằm trong số các quốc gia cuối cùng dời khỏi Đông Giao Dân Hạng vào năm 1954.{{sfn|Hoare|1999|loc =71}} Một khu vực sứ quán mới xuất hiện ở phía đông của tường thành, tại [[Tam Lý Đồn]], nơi các nước thuộc [[Khối phía Đông|khối Cộng sản]] và [[Thế giới thứ ba]] thiết lập cơ quan đại diện ngoại giao của mình.