Khác biệt giữa các bản “Chư hầu”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
n
Vào thời kỳ đầu của xã hội phong kiến, quyền lực nằm trong tay thủ lĩnh [[bộ lạc]] chuyển đổi thành ''lãnh chúa'' cát cứ trong lãnh thổ của họ. Các xung đột xảy ra thì bên cạnh dạng cá lớn nuốt trọn cá bé, cũng nổi lên dạng lãnh chúa mạnh và khôn ngoan, thiết lập quyền kiểm soát các lãnh thổ khác ở mức xác định.
 
Tại Trung Quốc nó dẫn đến mô hình thiên tử - chư hầu ở thời [[nhà Hạ]] (Tk 21- Tk 16 TCN) và [[nhà Thương]] (Tk 16 - Tk 11 TCN). Mối quan hệ thiên tử - chư hầu lúc đầu còn ở dạng sơ khai, chưa có một lý thuyết nền tảng về xã hội. Quan hệ giữa các thành phần biến động theo khả năng duy trì thực lực của các thành phần đó, và nói chung là còn lỏng lẻo, các chư hầu thì vẫn chia phái hoặc liên minh hoặc đánh chiếm lẫn nhau. Các di chỉ khảo cổ thời [[nhà Thương]] cho thấy các thuộc quốc của triều đại này gọi là "Phương quốc", giữa vua [[nhà Thương]] với các thủ lĩnh bộ tộc đó không có quan hệ vua tôi mà chỉ là liên minh quân sự. Vua nhà Hạ, nhà Thương chỉ đóng vai trò đứng đầu liên hợp các phương quốc, được các nước đó gọi là "đại quốc", "đại ấp" và các nước này xưng "tiểu quốc", "tiểu ấp"<ref name="ckh19">Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 19</ref>. Đây là thời kỳ huyền sử, chưa có chữ viết và không có ghi chép hệ thống nào, nên tính chính xác các sự kiện không được kiểm chứng.
 
Sang thời [[nhà Chu]] (Tk 11 - Tk 3 TCN), đại đa số các chư hầu đều là người thân thích hoặc công thần nhà Chu, chịu sự ràng buộc khá chặt chẽ, có quan hệ vua tôi với thiên tử nhà Chu<ref name="ckh19"/>. Chư hầu có nghĩa vụ với thiên tử nhà Chu như: triều kiến định kỳ, cống nạp, điều quân theo sự huy động của vua Chu khi có chiến tranh hoặc làm lễ lớn để trợ tế...<ref>Trương Tú Bình, Vương Hiểu Minh, sách đã dẫn, tr 28</ref><ref>Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 21</ref>.
==Hiện đại==
Trong ngữ cảnh hiện đại thì từ này dùng để ám chỉ nước phụ thuộc chịu sự chi phối của một nước lớn, trong quan hệ với nước lớn ấy, ví dụ: [[Đế quốc Mỹ]] và chư hầu, [[Liên Xô|Liên bang Xô viết]] và các nước chư hầu [[Đông Âu]].
 
== Nghi vấn lịch sử ==
Thời kỳ [[nhà Hạ]] (Tk 21- Tk 16 TCN) và [[nhà Thương]] (Tk 16 - Tk 11 TCN) là thời kỳ huyền sử, chưa có chữ viết và không có ghi chép hệ thống nào. Đời sau lúc có chữ viết (sớm nhất là Tk 11 TCN), thì các sử gia cổ dựa trên truyền khẩu chép lại, gán cho đầy đủ tên họ thụy hiệu và thời gian, nhằm minh họa cho nguồn gốc của dân tộc mình. Các sử gia hiện đại ở TQ thì thiên về bảo vệ tính tự tôn của dân tộc.
 
Vì thế tính chính xác các sự kiện không được kiểm chứng.
 
== Chỉ dẫn ==