Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
AlphamaEditor, Excuted time: 00:00:39.0909087
Tới năm 1962, nhạc rock ở Anh trở nên phổ thông với các nhóm nhạc như [[The Beatles]], [[Gerry & The Pacemakers]] hay The Searchers từ Liverpool, hay Freddie and the Dreamers, Herman's Hermits và [[The Hollies]] ở Manchester. Họ mang đậm những ảnh hưởng từ nước Mỹ trong đó có nhạc soul, R&B, và surf<ref name=Stakes2001>R. Stakes, "Those boys: the rise of Mersey beat", in S. Wade, ed., ''Gladsongs and Gatherings: Poetry and its Social Context in Liverpool Since the 1960s'' (Liverpool: Liverpool University Press, 2001), ISBN 0-85323-727-1, pp. 157–66.</ref>, ban đầu vốn chơi lại những ca khúc để đệm cho các vũ công. Những ban nhạc như [[The Animals]] từ Newcastle, Them từ Belfast và đặc biệt những nhóm ở thủ đô London như [[The Rolling Stones]] và [[The Yardbirds]] lại có những quan điểm khác về nhạc R&B và blues<ref>J. R. Covach and G. MacDonald Boone, ''Understanding Rock: Essays in Musical Analysis'' (Oxford: Oxford University Press, 1997), ISBN 0-19-510005-0, p. 60.</ref>. Nhanh chóng, những ban nhạc trên đã tự sáng tác những sản phẩm của riêng mình, hòa trộn giữa hình thức từ nước Mỹ và quan điểm từ nhạc beat. Các nhóm nhạc beat bắt đầu viết những "giai điệu vui nhộn, không thể cưỡng lại", và nhạc R&B tại đây bắt đầu ít quan tâm hơn tới tình dục, mà thay vào đó là những ca khúc dữ dội và thường là những ca khúc chống lại một quan điểm, lập trường nào đó. Có thể coi vào thời kỳ này, âm nhạc vẫn đang lẫn lộn giữa hai xu thế lớn<ref name=Bogdanov2002BI>R. Unterberger, "British Invasion", in [[#CITEREFBogdanovWoodstraErlewine2002|Bogdanov et.al., 2002]], pp. 1316–17.</ref>. Tới năm 1963, nhờ The Beatles, các ban nhạc beat bắt đầu có được thành công tại Anh, dẫn tới sau đó nhiều ca khúc R&B thống trị các bảng xếp hạng<ref name=Bogdanov2002BritishR&B>R. Unterberger, "British R&B", in V. Bogdanov, C. Woodstra and S. T. Erlewine, eds, ''All Music Guide to Rock: the Definitive Guide to Rock, Pop, and Soul'' (Milwaukee, WI: Backbeat Books, 3rd edn., 2002), ISBN 0-87930-653-X, pp. 1315-6.</ref>.
 
Năm 1964, [[The Beatles]] tạo ra bước đột phá khi tiến hành quảng bá tới thị trường Mỹ. "[[I Want to Hold Your Hand]]" trở thành bản hit đầu tiên của họ đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng [[Billboard Hot 100|''Billboard'' Hot 100]], và tiếp tục giữ nguyên vị trí này 7 trong tổng số 15 tuần trên bảng xếp hạng<ref name=BritannicaBI>{{Citation | last =I. A. Robbins | title = British Invasion | journal = Encyclopædia Britannica | url = http://www.britannica.com/EBchecked/topic/80244/British-Invasion | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wZ2hZK4W| archivedate =ngày 17 tháng 2 năm 2011}}</ref><ref>H. Bill, ''The Book Of Beatle Lists'' (Poole, Dorset: Javelin, 1985), ISBN 0-7137-1521-9, p. 66.</ref>. Buổi xuất hiện của họ trên ''[[The Ed Sullivan Show]]'' vào ngày 9 tháng 2 được ước tính có tới 73 triệu người xem trực tiếp (kỷ lục của truyền hình Mỹ vào lúc đó) và được coi là viên gạch nền móng cho nền văn hóa nhạc pop của Mỹ. The Beatles nhanh chóng trở thành ban nhạc rock có số đĩa bán chạy nhất mọi thời đại với việc liên tiếp thống trị các bảng xếp hạng 2 bên bờ Đại Tây Dương<ref name=Bogdanov2002BI>R. Unterberger, "British Invasion", in V. Bogdanov, C. Woodstra and S. T. Erlewine, eds, ''All Music Guide to Rock: the Definitive Guide to Rock, Pop, and Soul'' (Milwaukee, WI: Backbeat Books, 3rd edn., 2002), ISBN 0-87930-653-X, pp. 1316-17.</ref>. Suốt 2 năm tiếp theo, liên tiếp [[Peter and Gordon]], [[The Animals]], Manfred Mann, Petula Clark, Freddie and the Dreamers, Wayne Fontana and the Mindbenders, Herman's Hermits, [[The Rolling Stones]], [[The Troggs]], và [[Donovan]] đều có những đĩa đơn quán quân tại Mỹ<ref name=BritannicaBI>{{Citation | last =I. A. Robbins | title = British Invasion | journal = Encyclopædia Britannica | url = http://www.britannica.com/EBchecked/topic/80244/British-Invasion | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wZ2hZK4W| archivedate =ngày 17 Februarytháng 2 năm 2011}}</ref>. Thành công này cũng bao gồm cả những nghệ sĩ mới thành danh như [[The Kinks]] và [[The Dave Clark Five]]<ref name=BeatlesArrive>{{Citation | last = T. Leopold| title = When the Beatles hit America CNN ngày 10 tháng 2 năm 2004 | journal = CNN.com| url = http://www.cnn.com/2004/SHOWBIZ/Music/02/05/beatles.40 | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wQcU3bD1| archivedate =ngày 11 tháng 2 năm 2011 | date=ngày 5 tháng 2 năm 2004}}</ref><ref name=allmusicBI>{{Citation | last = | title = British Invasion | journal = Allmusic | url = {{Allmusic|class=explore|id=style/d379|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wQbXwJ0x| archivedate =ngày 11 tháng 2 năm 2011}}.</ref>.
 
British Invasion đã góp phần quốc tế hóa âm nhạc rock 'n' roll, mở tung cánh cửa cho các nghệ sĩ Anh (và Ireland) tới những thành công mang tính quốc tế<ref name="allmusicBritpop">{{Citation | last = | title = Britpop | journal = Allmusic | url = {{Allmusic|class=explore|id=style/d2681|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wRBeCas7| archivedate =ngày 11 Februarytháng 2 năm 2011}}.</ref>. Tại Mỹ, nó cũng đánh dấu sự kết thúc của nhạc surf và các nhóm nhạc hát nữ vốn độc chiếm các bảng xếp hạng tại đây suốt những năm 50<ref>K. Keightley, "Reconsidering rock" in, S. Frith, W. Straw and J. Street, eds, ''The Cambridge Companion to Pop and Rock'' (Cambridge: Cambridge University Press, 2001), ISBN 0-521-55660-0, p. 117.</ref>. Nó cũng làm biến động mạnh mẽ sự nghiệp của một vài nghệ sĩ R&B, như [[Fats Domino]] và [[Chubby Checker]], và làm gián đoạn thành công của nhiều nghệ sĩ rock 'n' roll đương thời kể cả [[Elvis Presley]]<ref>F. W. Hoffmann, "British Invasion" in F. W. Hoffmann and H. Ferstler, eds, ''Encyclopedia of Recorded Sound, Volume 1'' (New York, NY: CRC Press, 2nd edn., 2004), ISBN 0-415-93835-X, p. 132.</ref>. British Invasion cũng góp phần tạo nên sự phân tách các thể loại của nhạc rock, và định hình nên cấu trúc cơ bản trong đội hình của một nhóm nhạc rock dựa trên guitar và trống và tự chơi những ca khúc do chính mình sáng tác<ref name="R. Shuker, 2005 p. 35"/>.
 
=== Garage rock ===
{{xem thêm|Pop|Power pop}}
[[Tập tin:Everlys Brothers in concert.jpg|nhỏ|phải|200px|Nhóm nhạc [[The Everly Brothers]] vào năm 2006]]
Thuật ngữ "pop" bắt đầu được sử dụng từ những năm đầu của thế kỉ 20, ám chỉ các dòng nhạc quần chúng nói chung, nhưng bắt đầu từ giữa những năm 1950 nó bắt đầu được sử dụng cho một thể loại âm nhạc riêng biệt, nhắm vào thị trường giới trẻ và thường được coi là một dòng nhạc alternative nhẹ hơn rock and roll.<ref name=Firth2001>S. Frith, "Pop music" in S. Frith, W. Stray and J. Street, eds, ''The Cambridge Companion to Pop and Rock'' (Cambridge: Cambridge University Press, 2001), ISBN 0-521-55660-0, pp. 93–108.</ref><ref name=AllMusicPR>{{Citation | last = | title = Early Pop/Rock | journal = Allmusic | url = {{Allmusic|class=explore|id=style/d283|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wZ37tFIB| archivedate =ngày 11 tháng 2 năm 2011}}.</ref> Do hậu quả của [[British Invasion]], ý nghĩa của thuật ngữ "pop" ngày càng đối lập với "rock", thường là để chỉ một thể loại nhạc mang tính thương mại, nhất thời và dễ tiếp cận hơn.<ref name=Warner2003>T. Warner, ''Pop Music: Technology and Creativity: Trevor Horn and the Digital Revolution'' (Aldershot: Ashgate, 2003), ISBN 0-7546-3132-X, p. 3.</ref> Mặt đối lập, nhạc rock tập trung chủ yếu vào các tác phẩm mở rộng, đặc biệt là các album, thường gắn liền với các nền tiểu văn hóa cụ thể (giống như phản văn hóa), đặt trọng tâm vào các giá trị nghệ thuật và tính "xác thực" của nó, nhấn mạnh vào phần biểu diễn trực tiếp, phần nhạc nền hoặc vào giọng hát điêu luyện và thường gói gọn sự phát triển tiến bộ chứ không phải chỉ đơn giản là phản ánh xu hướng hiện tại.<ref name=Warner2003>T. Warner, ''Pop Music: Technology and Creativity: Trevor Horn and the Digital Revolution'' (Aldershot: Ashgate, 2003), ISBN 0-7546-3132-X, pp.&nbsp;3–4.</ref><ref name=Firth2001>S. Frith, "Pop music" in S. Frith, W. Stray and J. Street, eds, ''The Cambridge Companion to Pop and Rock'' (Cambridge: Cambridge University Press, 2001), ISBN 0-521-55660-0, pp. 93–108.</ref><ref name=AllMusicPR>{{Citation | last = | title = Early Pop/Rock | journal = Allmusic | url = {{Allmusic|class=explore|id=style/d283|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wZ37tFIB| archivedate =ngày 11 Februarytháng 2 năm 2011}}.</ref><ref>R. Shuker, ''Understanding Popular Music'' (Abingdon: Routledge, 2nd edn., 2001), ISBN 0-415-23509-X, pp. 8–10.</ref>
 
Tuy nhiên nhiều bài hát nhạc pop và rock lại rất giống nhau cả về mặt âm thanh, phần nhạc nền cũng như nội dung lời bài hát. Các thuật ngữ "pop-rock" và "power pop" bắt đầu được sử dụng để diễn tả các bài hát có tính thành công thương mại cao sử dụng một số hình thức của nhạc rock.<ref>R. Shuker, ''Popular Music: the Key Concepts'' (Abingdon: Routledge, 2nd edn., 2005), ISBN 0-415-34770-X, p. 207.</ref> Pop-rock đã từng được định nghĩa là "những bản upbeat của nhạc rock được biểu diễn bởi các nghệ sĩ như [[Elton John]], [[Paul McCartney]], [[The Everly Brothers]], [[Rod Stewart]], [[Chicago (ban nhạc)|Chicago]], và [[Peter Frampton]].<ref>L. Starr and C. Waterman, [http://www.webcitation.org/5wZ3SgYj9 ''American Popular Music''] (Oxford: Oxford University Press, 2nd edn, 2007), ISBN 0-19-530053-X, archived from [http://www.us.oup.com/us/companion.websites/019530053X/studentresources/chapter11/key_terms/ the original] on ngày 17 tháng 2 năm 2011.</ref> Ngược lại, nhà phê bình âm nhạc [[George Starostin]] lại định nghĩa pop-rock là một tiểu thể loại của nhạc pop sử dụng các bản nhạc pop hấp dẫn mà chủ yếu là dựa vào guitar. Starostin cho rằng hầu hết những gì là gọi là "power pop" là thuộc về pop rock, và nội dung phần lời bài hát là "phần quan trọng thứ yếu đối với âm nhạc."<ref>[http://starling.rinet.ru/music/zstyles.htm"Musical Categories – "A Brief Explanation"], ''George Starostin's music reviews''. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2009.</ref> Thuật ngữ "power pop" được đặt ra bởi [[Pete Townshend]] của ban nhạc [[The Who]] vào năm 1966, nhưng không được sử dụng nhiều cho đến khi nó được áp dụng đối với các ban nhạc như [[Badfinger]], một ban nhạc đã có được rất nhiều thành công thương mại trong thời kì này, vào những năm 1970.<ref>J. M. Borack, ''Shake Some Action: the Ultimate Power Pop Guide'' (Shake Some Action – PowerPop, 2007), ISBN 0-9797714-0-4, p. 18.</ref> Xuyên suốt lịch sử của nó đã có nhiều sản phẩm nhạc rock có sử dụng các yếu tố của pop, và các nghệ sĩ pop sử dụng nhạc rock làm nền tảng cho âm nhạc của họ, hoặc nỗ lực phấn đấu cho tính "xác thực" của rock.
Ở Mỹ, blues rock đã được gây dựng từ đầu những năm 1960 bởi tay guitar [[Lonnie Mack]]<ref>P. Prown, H. P. Newquist and J. F. Eiche, ''Legends of Rock Guitar: the Essential Reference of Rock's Greatest Guitarists'' (Milwaukee, WI: Hal Leonard Corporation, 1997), ISBN 0-7935-4042-9, p. 25.</ref>, nhưng phong cách sớm bị lu mờ từ giữa những năm 60 bởi làn sóng từ những nghệ sĩ tới từ Anh. Những nghệ sĩ nổi bật nhất có thể kể tới [[Paul Butterfield]], Canned Heat, [[Jefferson Airplane]] những năm đầu tiên, [[Janis Joplin]], Johnny Winter, The J. Geils Band và [[Jimi Hendrix]] cùng với những ban nhạc vĩ đại của mình là [[The Jimi Hendrix Experience]] và [[Band of Gypsys]] mà khả năng chơi guitar cùng với thể hiện nhóm đã gây ảnh hưởng rất lớn suốt cả thập kỷ<ref name=Bogdanov2003BluesRock>R. Uterberger, "Blues Rock", in V. Bogdanov, C. Woodstra, S. T. Erlewine, eds, ''All Music Guide to the Blues: The Definitive Guide to the Blues'' (Milwaukee, WI: Backbeat Books, 3rd edn., 2003), ISBN 0-87930-736-6, pp.&nbsp;701–2.</ref>. Một số nhóm blues rock tới từ phía Nam như [[Allman Brothers Band]], [[Lynyrd Skynyrd]], hay [[ZZ Top]] thì chơi rock với nhiều yếu tố đồng quê hơn để rồi tạo nên thể loại [[Southern rock]]<ref name=Bogdanov2002SouthernRock>R. Unterberger, "Southern Rock", in V. Bogdanov, C. Woodstra and S. T. Erlewine, eds, ''All Music Guide to Rock: the Definitive Guide to Rock, Pop, and Soul'' (Milwaukee, WI: Backbeat Books, 3rd edn., 2002), ISBN 0-87930-653-X, pp. 1332-3.</ref>.
 
Nhiều nhóm blues rock ban đầu thường chơi theo kiểu jazz, chơi những đoạn dài và nhấn mạnh vào các đoạn ngẫu hứng, dần trở thành các nhóm chơi [[progressive rock]]. Khoảng năm 1967, Cream và The Jimi Hendrix Experience bắt đầu xa dần tính blues truyền thống để chuyển sang chơi psychedelia<ref name="amg">{{Citation | last = | title = Blues-rock | journal = Allmusic | url = {{Allmusic|class=explore|id=style/d50|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wR7EB7K0| archivedate =ngày 11 Februarytháng 2 năm 2011}}.</ref>. Tới những năm 1970, blues rock trở nên "heavy" hơn và được thể hiện với nhiều kỹ thuật miết hơn qua những sản phẩm của Led Zeppelin và [[Deep Purple]]. Khác biệt giữa blues rock và [[hard rock]] ngày một "trở nên rõ ràng" với các album "kiểu rock" của họ<ref name="amg">{{Citation | last = | title = Blues-rock | journal = Allmusic | url = {{Allmusic|class=explore|id=style/d50|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wR7EB7K0| archivedate =ngày 11 tháng 2 năm 2011}}.</ref>. Phong cách này vẫn tiếp tục tồn tại với những nghệ sĩ như George Thorogood hay Pat Travers<ref name=Bogdanov2003BluesRock>R. Uterberger, "Blues Rock", in V. Bogdanov, C. Woodstra, S. T. Erlewine, eds, ''All Music Guide to the Blues: The Definitive Guide to the Blues'' (Milwaukee, WI: Backbeat Books, 3rd edn., 2003), ISBN 0-87930-736-6, pp.&nbsp;701–2.</ref>, song ở Anh, các ban nhạc bắt đầu chuyển dần sang chơi [[heavy metal]] (ngoại lệ duy nhất có lẽ là [[Status Quo]] và [[Foghat]] khi họ chuyển từ blues rock sang chơi [[boogie rock]]), và blues rock bắt đầu ngày một ít phổ biến<ref>P. Prown, H. P. Newquist and J. F. Eiche, ''Legends of Rock Guitar: the Essential Reference of Rock's Greatest Guitarists'' (Milwaukee, WI: Hal Leonard Corporation, 1997), ISBN 0-7935-4042-9, p. 113.</ref>.
 
=== Folk rock ===
Vào cuối thập niên 1960, jazz rock nổi lên như một tiểu thể loại riêng biệt, tách ra khỏi blues rock, psychedelic và progressive rock, pha trộn giữa những cái hay của rock cùng với sự phức tạp về mặt âm nhạc và các yếu tố ngẫu hứng của jazz. Nhiều nhạc sĩ rock and roll Mỹ đã bắt đầu từ nhạc jazz và đem một số yếu tố của jazz đặt vào âm nhạc của họ. Ở Anh, tiểu thể loại của blues rock, cùng với những người dẫn đầu thể loại này như [[Ginger Baker]] và [[Jack Bruce]] của ban nhạc [[Cream (ban nhạc)|Cream]], đã nổi lên từ nhạc jazz Anh. Vẫn thường được coi là thu âm nhạc jazz rock đầu tiên là album của một ban nhạc không mấy tiếng tăm ở New York, [[The Free Spirits]], với album ''Out of Sight and Sound'' (1966). Những ban nhạc đã sử dụng các phần jazz trong các bài hát của mình như [[Electric Flag]], Blood, Sweat & Tears và [[Chicago (ban nhạc)|Chicago]], đã trở thành nhiều trong số những nghệ sĩ có được thành công thương mại lớn nhất vào cuối thập niên 1960 đầu thập niên 1970.<ref name=Bogdanov2002JazzRock/>
 
Nhiều nghệ sĩ người Anh nổi lên trong cùng thời kì này từ nhạc blues đã lợi dụng những khía cạnh âm điệu và tính ngẫu hứng của nhạc jazz, trong đó có [[Nucleus (ban nhạc)|Nucleus]]<ref>I. Carr, D. Fairweather and B. Priestley, ''The Rough Guide to Jazz'' (London: Rough Guides, 3rd edn., 2004), ISBN 1-84353-256-5, p. iii.</ref>, [[Graham Bond]] và John Mayall từ ban nhạc [[Colosseum (ban nhạc)|Colosseum]]. Từ psychedelic rock, ở [[Canterbury]] xuất hiện một ban nhạc tên là [[Soft Machine]], ban nhạc đã được dự đoán là sẽ sản xuất ra những sản phẩm hợp nhất thành công giữa hai thể loại âm nhạc. Có lẽ sự hợp nhất được đánh giá cao nhất đến từ phía nhạc jazz, với việc [[Miles Davis]], bị ảnh hưởng đặc biệt bởi các tác phẩm của Hendrix, đã kết hợp phần rock không lời vào album của mình, ''[[Bitches Brew]]'' (1970). Sau đó, rock đã có một ảnh hưởng lớn tới các nghệ sĩ nhạc jazz, trong đó có [[Herbie Hancock]], [[Chick Corea]] và [[Weather Report]].<ref name=Bogdanov2002JazzRock/> Thể loại này bắt đầu mờ nhạt dần vào cuối những năm 1970,<ref name=AMJazzRock>{{Citation | last = | title =Jazz-rock | journal = Allmusic | url =http://www.allmusic.com/explore/style/jazz-rock-d2776 | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wRb6iIh2 | archivedate =ngày 12 tháng 2 năm 2011}}</ref> nhưng một số nghệ sĩ như [[Steely Dan]],<ref name=AMJazzRock>{{Citation | last = | title =Jazz-rock | journal = Allmusic | url =http://www.allmusic.com/explore/style/jazz-rock-d2776 | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wRb6iIh2 | archivedate =ngày 12 Februarytháng 2 năm 2011}}</ref> [[Frank Zappa]] và [[Joni Mitchell]] đã thu âm một số lượng đáng kể các album với ảnh hưởng từ jazz trong thời kì này, và nó vẫn tiếp tục là một ảnh hưởng lớn của nhạc rock.<ref name=Bogdanov2002JazzRock>R. Unterberger, "Jazz Rock", in V. Bogdanov, C. Woodstra and S. T. Erlewine, eds, ''All Music Guide to Rock: the Definitive Guide to Rock, Pop, and Soul'' (Milwaukee, WI: Backbeat Books, 3rd edn., 2002), ISBN 0-87930-653-X, pp. 1328-30.</ref>
 
=== Glam rock ===
Glam rock có nguồn gốc từ psychedelic và art rock từ cuối những năm 1960 và được coi như một sự mở rộng cũng như đối nghịch với cả 2 thể loại trên<ref name=Shuker2005pp124-5/>. Sự đa dạng về mặt âm nhạc, từ những nghệ sĩ theo xu hướng trở về rock and roll nguyên thủy như [[Alvin Stardust]] cho tới thứ art rock phức tạp của [[Roxy Music]], đều được coi là đặc trưng của phong cách này<ref name=Shuker2005pp124-5>R. Shuker, ''Popular Music: the Key Concepts'' (Abingdon: Routledge, 2nd edn., 2005), ISBN 0-415-34770-X, pp. 124–5.</ref>. Nhìn chung glam rock pha trộn nhiều đặc điểm từ nhiều phong cách khác nhau, từ những giai điệu Hollywood những năm 1930, qua cả thời kỳ hạn chế tình dục của thập niên 1950, rồi phong cách [[Cabaret]] thời tiền chiến, văn học thời kỳ Vitoria cùng với kiểu cách biểu tượng, khoa học viễn tưởng đi kèm với những tích cổ và sự kiện huyền bí; tất cả biểu hiện ở vẻ bề ngoài qua trang phục, cách trang điểm, kiểu tóc và giày độn đế hầm hố<ref>P. Auslander, ''Performing Glam Rock: Gender and Theatricality in Popular Music'' (Ann Arbor, MI: University of Michigan Press, 2006), ISBN 0-7546-4057-4, pp. 57, 63, 87 and 141.</ref>. Glam rock còn được nhắc tới nhiều về việc lẫn lộn giới tính và là nguồn gốc của thời trang [[androgyny]], bên cạnh việc đề cao nghệ thuật sân khấu<ref name=AllmusicGR>{{Citation | last = | title = Glam rock | journal = Allmusic | url = {{Allmusic|class=explore|id=style/d388|pure_url=yes}} | archiveurl = http://www.webcitation.org/5wS7OGLm4| archivedate =ngày 11 tháng 2 năm 2011}}.</ref>. Ban đầu nó được định hình bởi những nghệ sĩ trình diễn nổi tiếng từ nước Mỹ như [[The Cockettes]] hay [[Alice Cooper]]<ref>P. Auslander, ''Performing Glam Rock: Gender and Theatricality in Popular Music'' (Ann Arbor, MI: University of Michigan Press, 2006), ISBN 0-472-06868-7, p. 34.</ref>.
 
Nguồn gốc của glam rock có lẽ là từ [[Marc Bolan]], người đổi tên ban nhạc folk [[T. Rex (ban nhạc)|T. Rex]] rồi mang tới cho họ những nhạc cụ điện thực sự mạnh mẽ vào cuối những năm 60. Nhiều nguồn có nhắc tới việc ông xuất hiện trong chương trình truyền hình ''[[Top of the Pops]]'' vào tháng 12 năm 1970 khi mặc đồ kim tuyến để trình diễn đĩa đơn quán quân đầu tiên trong sự nghiệp, "[[Ride a White Swan]]"<ref>P. Auslander, ''Performing Glam Rock: Gender and Theatricality in Popular Music'' (Ann Arbor, MI: University of Michigan Press, 2006), ISBN 0-472-06868-7, p. 196.</ref>. Năm 1971, ngôi sao trẻ [[David Bowie]] nghĩ ra hình tượng Ziggy Stardust với cách trang điểm, điệu bộ và thái độ đặc trưng cho mỗi buổi diễn<ref name=Auslander2006p72>P. Auslander, "Watch that man David Bowie: Hammersmith Odeon, London, ngày 3 tháng 7 năm 1973" in I. Inglis, ed., ''Performance and Popular Music: History, Place and Time'' (Aldershot: Ashgate, 2006), ISBN 0-7546-4057-4, p. 72.</ref>. Không lâu sau, phong cách đó được nhiều nghệ sĩ theo đuổi, có thể kể tới Roxy Music, Sweet, Slade, Mott the Hoople, Mud và Alvin Stardust<ref name=Auslander2006p72>P. Auslander, "Watch that man David Bowie: Hammersmith Odeon, London, Julyngày 3, tháng 7 năm 1973" in I. Inglis, ed., ''Performance and Popular Music: History, Place and Time'' (Aldershot: Ashgate, 2006), ISBN 0-7546-4057-4, p. 72.</ref>. Cho dù có được thành công lớn tại Anh, chỉ vài người trong số họ tìm được tiếng nói tại Mỹ. Bowie có lẽ là ngoại lệ duy nhất khi có được tiếng vang toàn cầu và được nhắc tới là người mang tính glam cho nhiều nghệ sĩ nổi tiếng khác như [[Lou Reed]], [[Iggy Pop]], [[New York Dolls]] và [[Jobriath]] – thường được gọi chung dưới tên "glitter rock" vì phần ca từ thường bi quan hơn so với những nghệ sĩ người Anh<ref name=Auslander2006p80>P. Auslander, "Watch that man David Bowie: Hammersmith Odeon, London, ngày 3 tháng 7 năm 1973" in Ian Inglis, ed., ''Performance and Popular Music: History, Place and Time'' (Aldershot: Ashgate, 2006), ISBN 0-7546-4057-4, p. 80.</ref>. Tại Anh, khái niệm "glitter rock" gắn liền với từ nhạc glam cực đại của [[Gary Glitter]] và nhóm [[Glitter Band]] của ông – những người có tới 18 đĩa đơn top 10 tại đây chỉ trong khoảng từ năm 1972 tới năm 1976<ref name=Bogdanov2002Glitter>D. Thompson, "Glitter Band" and S. Huey, "Gary Glitter", in V. Bogdanov, C. Woodstra and S. T. Erlewine, eds, ''All Music Guide to Rock: the Definitive Guide to Rock, Pop, and Soul'' (Milwaukee, WI: Backbeat Books, 3rd edn., 2002), ISBN 0-87930-653-X, p. 466.</ref>.
 
Làn sóng thứ 2 là từ [[Suzi Quatro]], [[Wizzard]] và [[Sparks (ban nhạc)|Sparks]], thống trị các bảng xếp hạng tại Anh trong những năm 1974-1976<ref name=Auslander2006p72>P. Auslander, "Watch that man David Bowie: Hammersmith Odeon, London, Julyngày 3, tháng 7 năm 1973" in I. Inglis, ed., ''Performance and Popular Music: History, Place and Time'' (Aldershot: Ashgate, 2006), ISBN 0-7546-4057-4, p. 72.</ref>. Một vài kiểu cách khác, không hoàn toàn được gọi là glam, có thể được nhắc tới qua vài nghệ sĩ như [[Rod Stewart]], [[Elton John]], [[Queen (ban nhạc)|Queen]], thậm chí cả [[The Rolling Stones]]<ref name=Auslander2006p72>P. Auslander, "Watch that man David Bowie: Hammersmith Odeon, London, Julyngày 3, tháng 7 năm 1973" in I. Inglis, ed., ''Performance and Popular Music: History, Place and Time'' (Aldershot: Ashgate, 2006), ISBN 0-7546-4057-4, p. 72.</ref>. Nó cũng ảnh hưởng trực tiếp tới nhiều hậu bối, có thể kể tới [[Kiss (ban nhạc)|Kiss]] hay [[Adam Ant]], và gián tiếp tới vài phong cách khác như [[gothic rock]] hay [[glam metal]] và cả [[punk rock]] – phong cách đặt dấu chấm hết cho thời trang glam vào năm 1976<ref name=Auslander2006p80>P. Auslander, "Watch that man David Bowie: Hammersmith Odeon, London, Julyngày 3, tháng 7 năm 1973" in Ian Inglis, ed., ''Performance and Popular Music: History, Place and Time'' (Aldershot: Ashgate, 2006), ISBN 0-7546-4057-4, p. 80.</ref>. Glam rock sau này có được vài thành công nhỏ lẻ từ những nhóm như Chainsaw Kittens, The Darkness và nghệ sĩ R&B [[Prince (ca sĩ)|Prince]]<ref>P. Auslander, ''Performing Glam Rock: Gender and Theatricality in Popular Music'' (Ann Arbor, MI: University of Michigan Press, 2006), ISBN 0-7546-4057-4, pp. 227.</ref>.
 
=== Soft rock, hard rock và tiền heavy metal ===
{{chính|Soft rock|Hard rock|Heavy metal}}
[[Tập tin:LedZeppelinChicago75 2.jpg|nhỏ|phải|[[Led Zeppelin]] biểu diễn tại sân vận động [[Chicago Stadium]] vào tháng 1, 1975]]
Từ cuối những năm 1960, việc phân chia nhạc rock thành soft rock và hard rock bắt đầu trở nên phổ biến.<ref name=Curtis1987>J. M. Curtis, ''Rock Eras: Interpretations of Music and Society, 1954–1984'' (Madison, WI: Popular Press, 1987), ISBN 0-87972-369-6, p. 236.</ref> Soft rock thường có nguồn gốc từ folk rock, sử dụng các nhạc cụ đệm nhẹ và chú tâm hơn vào phần giai điệu và hòa âm. Một số nghệ sĩ lớn của soft rock bao gồm [[Carole King]], [[Cat Stevens]] và [[James Taylor]].<ref name=Curtis1987>J. M. Curtis, ''Rock Eras: Interpretations of Music and Society, 1954–1984'' (Madison, WI: Popular Press, 1987), ISBN 0-87972-369-6, p. 236.</ref> Soft rock đạt đến đỉnh cao của thương mại vào khoảng từ giữa đến cuối thập niên 1970 với một số nghệ sĩ như [[Billy Joel]], [[America (ban nhạc)|America]], và ban nhạc [[Fleetwood Mac]] với album ''[[Rumours]]'' (1977) là album bán chạy nhất của thập kỉ.<ref>J. Kennaugh, "Fleetwood Mac", in P. Buckley, ed., ''Rock: The Rough Guide'' (London: Rough Guides, 1st edn., 1996), ISBN 1-85828-201-2, pp. 323-4.</ref> Ngược lại, hard rock thường được bắt nguồn từ blues rock và được chơi với cường độ lớn hơn.<ref name=AllMusicHard>{{Citation | last = | title = Hard Rock | journal = Allmusic | url = {{Allmusic|class=explore|id=style/d217|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wS1b6c7H| archivedate =ngày 12 Februarytháng 2 năm 2011}}.</ref> Nhạc hard rock nổi bật với tiếng guitar điện, là nhạc cụ chính độc lập hoặc cũng có thể là nhạc cụ sử dụng để lặp đi lặp lại những câu nhạc đơn giản, và thường được sử dụng cùng với hiệu ứng [[Biến dạng (âm nhạc)|biến dạng]] âm thanh và nhiều hiệu ứng khác.<ref name=AllMusicHard>{{Citation | last = | title = Hard Rock | journal = Allmusic | url = {{Allmusic|class=explore|id=style/d217|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wS1b6c7H| archivedate =ngày 12 Februarytháng 2 năm 2011}}.</ref> Một số nghệ sĩ chính của thể loại nhạc này bao gồm các ban nhạc nổi lên từ cuộc xâm lăng [[British Invasion]] như [[The Who]] và [[The Kinks]], cũng như những nghệ sĩ trong thời kì psychedelic như [[Cream (ban nhạc)|Cream]], [[Jimi Hendrix]] và [[The Jeff Beck Group]].<ref name=AllMusicHard>{{Citation | last = | title = Hard Rock | journal = Allmusic | url = {{Allmusic|class=explore|id=style/d217|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wS1b6c7H| archivedate =ngày 12 tháng 2 năm 2011}}.</ref> Nhiều ban nhạc ảnh hưởng bởi hard rock đã đạt được những thành công quốc tế to lớn, trong đó có ban nhạc [[Queen (ban nhạc)|Queen]],<ref>{{Citation | last =S. T. Erlewine | title = Queen | journal = Allmusic | url = {{Allmusic|class=artist|id=queen-p5205/biography|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wS5t2gXT| archivedate =ngày 12 tháng 2 năm 2011}}.</ref> [[Thin Lizzy]],<ref>{{Citation | last =J. Dougan | title = Thin Lizzy | journal = Allmusic | url = {{Allmusic|class=artist|id=thin-lizzy-p5633/biography|pure_url=yes}} | archiveurl = http://www.webcitation.org/5wS6F8uBu| archivedate =ngày 12 tháng 2 năm 2011}}.</ref> [[Aerosmith]] và [[AC/DC]].<ref name=AllMusicHard>{{Citation | last = | title = Hard Rock | journal = Allmusic | url = {{Allmusic|class=explore|id=style/d217|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wS1b6c7H| archivedate =ngày 12 Februarytháng 2 năm 2011}}.</ref>
 
Từ cuối những năm 1960, thuật ngữ "heavy metal" bắt đầu được sử dụng để diễn tả loại nhạc hard rock được chơi với cường độ và âm thanh mạnh hơn. Mới đầu, "heavy metal" được sử dụng như một tính từ, nhưng đến đầu thập niên 1970, nó trở thành một danh từ.<ref>R. Walser, ''Running With the Devil: Power, Gender, and Madness in Heavy Metal Music'' (Middletown, CT: Wesleyan University Press, 1993), ISBN 0-8195-6260-2, p. 7.</ref> Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên trong đĩa đơn "[[Born to Be Wild]]" (1967) của ban nhạc [[Steppenwolf (ban nhạc)|Steppenwolf]] và bắt đầu trở nên phổ biến khi được sử dụng bởi các ban nhạc như [[Blue Cheer]] (Boston) và [[Grand Funk Railroad]] (Michigan).<ref>R. Walser, ''Running With the Devil: Power, Gender, and Madness in Heavy Metal Music'' (Middletown, CT: Wesleyan University Press, 1993), ISBN 0-8195-6260-2, p. 9.</ref> Ðến năm 1970 ba ban nhạc chính của Anh đã phát triển những âm thanh và phong cách đặc trưng, giúp định hình tiểu thể loại này. [[Led Zeppelin]] thêm các yếu tố [[kỳ ảo]] vào câu nhạc đậm chất blues-rock, [[Deep Purple]] đem đến những gia vị kiểu trung cổ và mang tính giao hưởng, và [[Black Sabbath]] giới thiệu những khía cạnh [[gothic rock|gothic]] của rock, góp phần sản xuất ra những âm thanh "tối hơn".<ref name=Walser1993p10>R. Walser, ''Running With the Devil: Power, Gender, and Madness in Heavy Metal Music'' (Middletown, CT: Wesleyan University Press, 1993), ISBN 0-8195-6260-2, p. 10.</ref> Những yếu tố này tiếp tục được sử dụng bởi "thế hệ thứ hai" của các ban nhạc heavy metal vào cuối thập niên 1970, trong đó có [[Judas Priest]], [[UFO (ban nhạc)|UFO]], [[Motörhead]] và [[Rainbow (ban nhạc người Anh)|Rainbow]] ở Anh; [[Kiss (ban nhạc)|Kiss]], [[Ted Nugent]], và [[Blue Öyster Cult]] ở Mỹ; [[Rush (ban nhạc)|Rush]] ở Canada và [[Scorpions (ban nhạc)|Scorpions]] ở Đức, tất cả đều đánh dấu sự mở rộng về độ phổ biến của tiểu thể loại này.<ref name=Walser1993p10>R. Walser, ''Running With the Devil: Power, Gender, and Madness in Heavy Metal Music'' (Middletown, CT: Wesleyan University Press, 1993), ISBN 0-8195-6260-2, p. 10.</ref> Mặc dù thiếu sự hậu thuẫn của các đài phát thanh và ít khi xuất hiện trên các bảng xếp hạng đĩa đơn nhưng vào cuối thập niên 1970, nhạc heavy metal đã có được một sự quan tâm đáng kể, đặc biệt là ở nam giới vị thành niên thuộc tầng lớp lao động ở Bắc Mỹ và châu Âu.<ref>R. Walser, ''Running With the Devil: Power, Gender, and Madness in Heavy Metal Music'' (Middletown, CT: Wesleyan University Press, 1993), ISBN 0-8195-6260-2, p. 3.</ref>
{{chính|Grunge}}
[[Tập tin:Nirvana around 1992.jpg|190px|nhỏ|phải|[[Nirvana (ban nhạc)|Nirvana]] trên sân khấu vào năm 1992]]
Không bị ảnh hưởng bởi việc thương mại hóa nhạc pop và rock của những năm 1980, những nhóm từ bang Washington (đặc biệt từ [[Seattle]]) đã sáng tạo ra một thể loại nhạc rock hoàn toàn khác biệt với các phong cách phổ biến vào lúc đó<ref name="allmusic grunge">{{Citation | last = | title = Grunge | journal = Allmusic| date = |url = {{Allmusic|class=explore|id=style/d2679|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wT8KwMkr| archivedate =ngày 13 tháng 2 năm 2011}}.</ref>. Phong cách mới này được đặt tên là "grunge", cụm từ nhằm miêu tả thứ âm thanh đục cùng với ngoại hình lôi thôi của phần lớn các nhạc sĩ, những người chủ động chống lại cách ăn mặc bóng bẩy của phần đông các nghệ sĩ đương thời<ref name="allmusic grunge">{{Citation | last = | title = Grunge | journal = Allmusic| date = |url = {{Allmusic|class=explore|id=style/d2679|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wT8KwMkr| archivedate =ngày 13 Februarytháng 2 năm 2011}}.</ref>. Grunge pha trộn những yếu tố của [[hardcore punk]] và [[heavy metal]] và thường xuyên sử dụng những kỹ thuật làm méo, rè cũng như thu âm ngược tiếng guitar<ref name="allmusic grunge">{{Citation | last = | title = Grunge | journal = Allmusic| date = |url = {{Allmusic|class=explore|id=style/d2679|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wT8KwMkr| archivedate =ngày 13 Februarytháng 2 năm 2011}}.</ref>. Phần ca từ thường thờ ơ hoặc đầy lo lắng, hay đề cập tới những chủ đề như sự xa lánh của xã hội, những cặm bẫy, cho dù nó cũng khá nổi tiếng với sự hài hước "đen tối" trong các chủ đề không lành mạnh cùng với tính phê phán các sản phẩm rock mang tính thương mại<ref name="allmusic grunge">{{Citation | last = | title = Grunge | journal = Allmusic| date = |url = {{Allmusic|class=explore|id=style/d2679|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wT8KwMkr| archivedate =ngày 13 Februarytháng 2 năm 2011}}.</ref>.
 
Những nhóm như Green River, Soundgarden, The Melvins và Skin Yard là những người khai sinh ra thể loại này, song [[Mudhoney]] mới là nghệ sĩ thành công nhất vào cuối thập niên 1980. Tuy nhiên, grunge chỉ thực sự được biết tới qua hiện tượng ''[[Nevermind]]'' của [[Nirvana (ban nhạc)|Nirvana]] vào năm 1991 với thành công của đĩa đơn nổi tiếng "[[Smells Like Teen Spirit]]"<ref>{{Citation | last = E. Olsen| title = 10 years later, Cobain continues to live on through his music | journal = MSNBC.com| date = ngày 4 tháng 9 năm 2004 |url = http://today.msnbc.msn.com/id/4652653 | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wVB9bA4w | archivedate =ngày 13 tháng 2 năm 2011}}</ref>. ''Nevermind'' mang nhiều tính giai điệu hơn bất kỳ sản phẩm trước đó, và ban nhạc thực tế cũng từ chối việc quảng bá và tiếp thị sản phẩm theo cách truyền thống. Trong những năm 1991 và 1992, lần lượt các album ''Ten'' của [[Pearl Jam]], ''Badmotorfinger'' của Soundgarden, ''Dirt'' của [[Alice in Chains]] và sản phẩm kết hợp giữa các thành viên của Pearl Jam và Soundgarden, ''Temple of the Dog'', đều xuất hiện trong các bảng xếp hạng album bán chạy nhất<ref>J. Lyons, ''Selling Seattle: Representing Contemporary Urban America'' (London: Wallflower, 2004), ISBN 1-903364-96-5, p. 136.</ref>. Hầu hết các nhãn đĩa đều được ký xung quanh khu vực Seattle, song cũng có nhiều nghệ sĩ đã thử tới các thành phố khác với hi vọng có thêm những thành công<ref name="Azerrad419">M. Azerrad, ''[[Our Band Could Be Your Life|Our Band Could Be Your Life: Scenes from the American Indie Underground, 1981–1991]]'' (Boston, MA: Little Brown and Company, 2001), ISBN 0-316-78753-1, pp. 452–53.</ref>. Tuy nhiên, [[cái chết của Kurt Cobain]] cùng với sự tan rã sau đó của Nirvana vào năm 1994, những trục trặc trong chuyến lưu diễn của Pearl Jam và sự ra đi của thủ lĩnh nhóm Alice in Chains – [[Layne Staley]] – vào năm 1996 đã khiến thể loại này nhanh chóng bị rơi vào quên lãng: hoặc bị lu mờ trước cái bóng của [[britpop]], hoặc bị thương mại hóa và trở thành [[post-grunge]]<ref name=AllMusicPostgrunge>{{Citation | last = | title =Post-grunge| journal = Allmusic| date = | url={{Allmusic|class=explore|id=style/d2771|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wTFBkV3M| archivedate =ngày 13 tháng 2 năm 2011}}.</ref>.
{{xem thêm|Riot Grrrl|Lo-fi|Post rock|Math rock|Space rock|Sadcore|Baroque pop}}
[[Tập tin:Pavement, the band, in Tokyo.jpg|200px|nhỏ|phải|Ban nhạc Lo-fi, [[Pavement]]]]
Trong những năm 80, khái niệm indie rock và alternative rock vẫn bị sử dụng lẫn lộn<ref name=AllMusicIndie>{{Citation | last =| title = Indie rock | journal = Allmusic| date = |url =http://www.allmusic.com/explore/style/d2687| archiveurl =http://www.webcitation.org/5wTaUVdId| archivedate =ngày 13 Februarytháng 2 năm 2011}}</ref>. Tới giữa những năm 90, những trào lưu mới bắt đầu có được những mối quan tâm lớn hơn, từ grunge tới Britpop, post-grunge và pop-punk, dẫn tới alternative dần bị mất đi ý nghĩa vốn có<ref name=AllMusicIndie>{{Citation | last =| title = Indie rock | journal = Allmusic| date = |url =http://www.allmusic.com/explore/style/d2687| archiveurl =http://www.webcitation.org/5wTaUVdId| archivedate =ngày 13 Februarytháng 2 năm 2011}}</ref>. Những ban nhạc đó ngày một có được ít thành công thương mại hơn và rồi dần gia nhập các nhãn đĩa indie<ref name=AllMusicIndie>{{Citation | last =| title = Indie rock | journal = Allmusic| date = |url =http://www.allmusic.com/explore/style/d2687| archiveurl =http://www.webcitation.org/5wTaUVdId| archivedate =ngày 13 Februarytháng 2 năm 2011}}</ref>. Họ thường đặc trưng bởi việc chỉ phát hành album qua các hãng đĩa tự do hoặc của chính họ, trong khi quảng bá chúng qua các tour diễn, truyền miệng, các buổi phát thanh và cả các buổi phát sóng tại các trường học<ref name=AllMusicIndie>{{Citation | last =| title = Indie rock | journal = Allmusic| date = |url =http://www.allmusic.com/explore/style/d2687| archiveurl =http://www.webcitation.org/5wTaUVdId| archivedate =ngày 13 tháng 2 năm 2011}}</ref>. Được gắn liền với các phong tục hay thói quen hơn quan điểm âm nhạc, indie rock tự bao hàm nhiều phong cách khác nhau, từ hard-edged, grunge như [[The Cranberries]] hay [[Superchunk]], tới do-it-yourself như [[Pavement]] và punk-folk như [[Ani DiFranco]]<ref name=Bogdanov2002USAlternative>S. T. Erlewine, "American Alternative Rock / Post Punk", in V. Bogdanov, C. Woodstra and S. T. Erlewine, ''All Music Guide to Rock: the Definitive Guide to Rock, Pop, and Soul'' (Milwaukee, WI: Backbeat Books, 3rd edn., 2002), ISBN 0-87930-653-X, pp. 1344–6.</ref><ref name=Bogdanov2002UKAlternative/>. Với indie, các nghệ sĩ nữ xuất hiện tới tỉ lệ lớn hơn hẳn các thể loại khác, từ đó dẫn tới sự hình thành của phong cách [[Riot grrrl]]<ref>M. Leonard, ''Gender in the Music Industry: Rock, Discourse and Girl Power'' (Aldershot: Ashgate, 2007), ISBN 0-7546-3862-6, p. 2.</ref>. Indie rock phát triển ở rất nhiều quốc gia, các nhóm nhạc vẫn có được sự nổi tiếng nhất định để tồn tại song thường họ vẫn ít được biết tới ngoài biên giới<ref>J. Connell and C. Gibson, ''Sound Tracks: Popular Music, Identity, and Place'' (Abingdon: Routledge, 2003), ISBN 0-415-17028-1, pp. 101–3.</ref>.
 
Tới cuối những năm 1990, rất nhiều tiểu thể loại vốn bắt nguồn từ làn sóng alternative của những năm 80 đã hòa vào khái niệm của indie. Lo-fi từ chối những kỹ thuật thu âm từ phong trào do-it-yourself và được đi đầu bởi những nhóm như [[Beck]], [[Sebadoh]] hay [[Pavement]]<ref name=Bogdanov2002USAlternative>S. T. Erlewine, "American Alternative Rock / Post Punk", in V. Bogdanov, C. Woodstra and S. T. Erlewine, ''All Music Guide to Rock: the Definitive Guide to Rock, Pop, and Soul'' (Milwaukee, WI: Backbeat Books, 3rd edn., 2002), ISBN 0-87930-653-X, pp. 1344–6.</ref>. Những nhóm như [[Talk Talk]] và [[Slint]] lấy cảm hứng thời hậu rock với những trải nghiệm từ jazz và âm nhạc điện tử, sau đó được gây dựng bởi những nhóm chủ chốt như [[Bark Psychosis]], Tortoise, Stereolab và Laika<ref name="S. Taylor, 2006 pp. 154-5">S. Taylor, ''A to X of Alternative Music'' (London: Continuum, 2006), ISBN 0-8264-8217-1, pp. 154–5.</ref><ref name=AMpostrock>{{Citation | last = | title =Post rock| journal = Allmusic| date = | url={{Allmusic|class=explore|id=style/d2682|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wUOZlt8K| archivedate =ngày 14 tháng 2 năm 2011}}.</ref>, dẫn tới thứ âm nhạc có kết cấu phức tạp và chắc chắn hơn với thứ guitar chơi cầu kỳ bởi các nhóm như Polvo hay Chavez<ref>{{Citation | last = | title =Math rock| journal = Allmusic| date = | url={{Allmusic|class=explore|id=style/d4560|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wUOlnegC| archivedate =ngày 14 tháng 2 năm 2011}}.</ref>. Space rock trở về với progressive, tới những giới hạn cực tiểu hay cực đại bởi [[Spacemen 3]], hoặc 2 nhóm nhạc vượt xa mọi giới hạn là Spectrum và Spiritualized, rồi sau đó là những nhóm như Flying Saucer Attack, [[Godspeed You! Black Emperor]] và Quickspace<ref>{{Citation | last = | title =Space rock| journal = Allmusic| date = | url=http://www.allmusic.com/explore/style/space-rock-d2784 | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wUOtn84J| archivedate =ngày 14 tháng 2 năm 2011}}</ref>. Trái lại, sadcore nhấn mạnh nỗi đau và sự chịu đựng qua âm nhạc điện cũng như acoustic giàu tính giai điệu với American Music Club hay Red House Painters<ref>{{Citation | last = | title =Sadcore| journal = Allmusic| date = |url={{Allmusic|class=explore|id=style/d4588|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wUP1oqYG | archivedate =ngày 14 tháng 2 năm 2011}}.</ref>, trong khi sự xuất hiện của Baroque pop như một sự đối lập với lo-fi và experimental khi nhấn mạnh vào giai điệu và nhạc rock truyền thống với những nhóm như [[Arcade Fire]], Belle and Sebastian và Rufus Wainright<ref>{{Citation | last = | title =Chamber pop| journal = Allmusic| date = | url={{Allmusic|class=explore|id=style/d4445|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wUP95eY9 | archivedate =ngày 14 tháng 2 năm 2011}}.</ref>.