Khác biệt giữa các bản “Flavius Aetius”

n
AlphamaEditor, thêm ref thiếu nội dung, thêm thể loại, Excuted time: 00:00:36.0360000
(→‎Đọc thêm: Alphama Tool)
n (AlphamaEditor, thêm ref thiếu nội dung, thêm thể loại, Excuted time: 00:00:36.0360000)
==Tiểu sử==
===Gia đình===
Flavius Aetius sinh tại [[Durostorum]] ở vùng [[Moesia|Hạ Moesia]] (nay là [[Silistra]], [[Bulgaria|Bungari]]) vào năm 396. Cha ông là [[Flavius Gaudentius]], một người lính [[La Mã gốc Scythia]],<ref name="Gibbon">Edward Gibbon, ''Decline and Fall of the Roman Empire'', The Modern Library, New York, volume II, p.1089.</ref><ref>[http://www.newadvent.org/cathen/01177b.htm Aëtius]. ''[[Catholic Encyclopedia]]''; ''Dictionary of Greek and Roman Biography and Mythology'', vol. 1, page 51; Tirnanog (1997).</ref> mẹ ông không rõ họ tên, xuất thân từ một gia đình quý tộc giàu có gốc [[Ý]].<ref>Jordanes, ''Getica'', 176; Merobaudes, ''Carmina'', iv, 42-43, and ''Panegyrici'', ii, 110-115, 119-120; Gregory of Tours, ii.8; Zosimus, v.36.1; ''Chronica gallica 452'', 100. Cited in Jones, p. 21.</ref> Vào năm [[425]], Aetius kết hôn với một người con gái không rõ họ tên của Carpilio,<ref>Carpilio had been a ''comes domesticorum'', commander of the imperial guard (Gregory of Tours, ii.8).</ref> hạ sinh một người con trai cũng tên là [[Carpilio]].<ref>Carpilio went to [[Attila]] for an embassy (Cassiodorus, ''Variae'', i.4.11) and remained at their court as an hostage for some time (Priscus, fr. 8).</ref> Về sau ông còn kết hôn với [[Pelagia]], góa phụ của Bonifacius, có thêm một người con trai nữa là [[Gaudentius]]. Ngoài ra ông còn có một cô con gái nữa không rõ họ tên, về sau là vợ của [[Thraustila]], người đã trả thù cho cái chết của Aetius bằng cách lập mưu ám sát Hoàng đế [[Valentinianus III]].<ref>Gregory of Tours, ii.8; Priscus, fr. 8; Cassiodorus, ''Variae'', i.4.11; John of Antioch, fr. 201.3 and 204; Marcellinus comes, s.a. 432; Sidonius Apollinaris, ''Carmina'', v.205; Hydatius, 167; Merobaudes, ''Carmina'', iv (poem composed for the first birthday of Gaudentius); ''Additamenta ad chron. Prosperi Hauniensis'', s.a. 455 (only source to cite Thraustila as son-in-law of Aëtius). Cited in Jones, p. 21.</ref>
 
===Sự nghiệp ban đầu===
Aetius nhìn chung được coi là một viên chỉ huy quân sự có tài năng thực sự, tài năng quân sự của ông khiến ông nhận được sự kính mến và lòng quý trọng to lớn từ Đế chế Tây La Mã, vì thế ông được mọi người xưng tụng là "người La Mã cuối cùng" còn lại của Đế chế phương Tây. Hầu hết các sử gia đều cho rằng Trận Chalons có ý nghĩa hết sức quan trọng, chính trận chiến này đã đánh tan tác huyền thoại bất khả chiến bại của Attila.<ref>[[Edward Shepherd Creasy]] http://www.standin.se/fifteen06a.htm Fifteen Decisive Battles of the World "The victory which the Roman general, Aëtius, with his Gothic allies, had then gained over the Huns, was the last victory of imperial Rome. But among the long Fasti of her triumphs, few can be found that, for their importance and ultimate benefit to mankind, are comparable with this expiring effort of her arms."</ref> Với chiến thắng huy hoàng này, danh tiếng của ông trở thành bất hủ vì đã đánh tan tác cuộc xâm lược của Attila.<ref name="EdGibbon3398">Edward Gibbon, ''The History of the Decline and Fall of the Roman Empire'', Tập 3, trang 398</ref> Đến nỗi sử gia Gibbon đã phát biểu hùng hồn quan điểm theo đa số:
 
{{bquote|việc ông ta (Attila) rút lui từ bên kia sông Rhine đã phải công nhận rằng chính chiến thắng cuối cùng này còn giữ lại được cái tên của Đế chế Tây La Mã..".<ref name="Gibbon>Edward Gibbon, ''Decline and Fall of the Roman Empire'', The Modern Library, New York, volume II, p.1089.<"/ref> }}
 
Đồng thời, Gibbon cũng công nhận Aetius là một trong những "người La Mã cuối cùng".<ref name="EdGibbon3398"/> Còn theo sử gia [[John Julius Norwich]] thì cay độc đổ tội ám sát Aetius của hoàng đế Valentinianus III do những tên lính gác của ông thực hiện đã khiến cho hoàng đế gặp phải họa sát thân khi thực hiện vụ mưu sát ngu xuẩn vào Aetius "''vị đại tướng vĩ đại nhất của Đế chế''. " <ref>Norwich, John. ''Byzantium: The Early Centuries''</ref> Vì thế di sản quân sự của Aetius được định hình ngay tại Châlons, dù cho ông có cai trị đế chế phương Tây một cách hữu hiệu từ năm 433-450, và những cố gắng nhằm ổn định các vùng biên giới ở châu Âu dưới sự tràn ngập dồn dập của người man rợ, mà kẻ tiên phong đầu tiên là Attila người Hung.
[[Thể loại:Người La Mã thế kỷ thứ 5]]
[[Thể loại:Chấp chính quan của Đế quốc La Mã]]
[[Thể loại:Sinh 391]]