Khác biệt giữa các bản “Thịnh Thế Tài”

n
AlphamaEditor, Excuted time: 00:00:13.1267572
n (AlphamaEditor, Excuted time: 00:00:13.1267572)
|birth_place= [[Liêu Ninh]], [[Nhà Thanh|Đế quốc Thanh]]
|death_date= 1970
|alma_mater = [[Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản]]<ref>{{chú thích sách|url=http://books.google.com/books?id=IAs9AAAAIAAJ&printsec=frontcover&dq=warlords+and+muslims#v=snippet&q=shikan%20gakko%20japan&f=false|title=Warlords and Muslims in Chinese Central Asia: a political history of Republican Sinkiang 1911-1949|author=Andrew D. W. Forbes|year=1986|publisher=CUP Archive|location=Cambridge, England|isbn=0-521-25514-7|pages=99, 251|pages=376|accessdate =2010-06- ngày 28 tháng 6 năm 2010}}</ref>
|nationality= [[Trung Hoa Dân Quốc|Hán]]
|spouse= Ch'iu Yü-fang<ref>{{chú thích sách|url=http://books.google.com/books?id=IAs9AAAAIAAJ&printsec=frontcover&dq=warlords+and+muslims#v=snippet&q=wife%20of%20sheng%20shih-ts'ai%20followed%20her%20husband%20to%20taiwan&f=false|title=Warlords and Muslims in Chinese Central Asia: a political history of Republican Sinkiang 1911-1949|author=Andrew D. W. Forbes|year=1986|publisher=CUP Archive|location=Cambridge, England|isbn=0-521-25514-7|page=239|pages=376|accessdate =2010-06- ngày 28 tháng 6 năm 2010}}</ref>
|children= 4
|residence= [[Ürümqi|Urumqi]]
Sinh tại [[Khai Nguyên]], [[Liêu Ninh]], ông từng phục vụ trong [[Quốc dân quân]]. Đầu tiên ông được cử đến Tân Cương dưới quyền Tỉnh trưởng [[Kim Thụ Nhân]] vào năm 1930. Ông trấn áp được [[Loạn Kumul]] (tháng 2 năm 1931 – tháng 10 năm 1931) với sự giúp đỡ của [[Liên Xô]], nhưng đổi lại là chủ quyền của Tân Cương.
 
Tổng lãnh sự Xô viết tại [[Ürümqi|Urumqi]] có vai trò như một viên thái thú bên cạnh Thịnh, buộc Thịnh phải tham vấn người Nga trước khi ra bất kì quyết định gì..<ref>{{chú thích sách|url=http://books.google.com/books?id=XeBxAAAAMAAJ&dq=Before+making+decisions+on+any+political+issue+or+on+any+important+personnel+appointments%2C+Sheng+Shicai+had+to+discuss+them+with+the+Soviet+Consul-General+at+Dihua+and+ask+for+his+advice&q=before+making+decisions+consul-general|title=Under the Soviet shadow: the Yining Incident: ethnic conflicts and international rivalry in Xinjiang, 1944-1949|author=David D. Wang|year=1999|publisher=The Chinese University Press|edition=illustrated|location=Hong Kong|page=53|isbn=962-201-831-9|pages=|accessdate =2010-06- ngày 28 tháng 6 năm 2010}}</ref><ref>{{chú thích sách|url=http://books.google.com/books?id=kugvAQAAIAAJ&dq=And+it+was+a+significant+fact+that+the+Russian+Consulate+General+in+Urumqi+was+the+most+important+post+in+the+Province&q=Russian+Consulate+urumqi+fact|title=The modern history of China|author=Li Chang|editor=Maria Roman Sławiński|year=2006|publisher=Księgarnia Akademicka|edition=illustrated|location=|page=161|isbn=83-7188-877-5|pages=|accessdate =2010-06- ngày 28 tháng 6 năm 2010}}</ref> Tân Cương trở thành một "vệ tinh của Xô viết", hoàn toàn do Xô viết khống chế.<ref>{{chú thích sách|url=http://books.google.com/books?id=IAs9AAAAIAAJ&printsec=frontcover&dq=warlords+and+muslims#v=onepage&q=sinkiang%20soviet%20satellite%20complete%20domination%20politically&f=false|title=Warlords and Muslims in Chinese Central Asia: a political history of Republican Sinkiang 1911-1949|author=Andrew D. W. Forbes|year=1986|publisher=CUP Archive|edition=illustrated|location=Cambridge, England|isbn=0-521-25514-7|page=144|pages=|accessdate =2010-06- ngày 28 tháng 6 năm 2010}}</ref>
 
Năm 1936, sau khi Thịnh Thế Tài trục xuất 20,000 người [[Kazakh]] từ [[Tân Cương]] sang [[Thanh Hải]], quân Hán Hồi dưới quyền tướng [[Mã Bộ Phương]] đã thẳng tay tàn sát những người Hồi giáo Kazakh này, chỉ còn lại 135 người sống sót.<ref>{{chú thích sách|url=http://books.google.com/books?id=m98sAAAAIAAJ&q=A+group+of+Kazakhs,+originally+numbering+over+20000+people+when+expelled+from+Sinkiang+by+Sheng+Shih-ts'ai+in+1936,+was+reduced,+after+repeated+massacres+by+their+Chinese+coreligionists+under+Ma+Pu-fang,+to+a+scattered+135+people&dq=A+group+of+Kazakhs,+originally+numbering+over+20000+people+when+expelled+from+Sinkiang+by+Sheng+Shih-ts'ai+in+1936,+was+reduced,+after+repeated+massacres+by+their+Chinese+coreligionists+under+Ma+Pu-fang,+to+a+scattered+135+people|title=The Annals of the American Academy of Political and Social Science, Volume 277|author=American Academy of Political and Social Science|year=1951|publisher=American Academy of Political and Social Science|location=|page=152|isbn=|pages=|accessdate =2010-06- ngày 28 tháng 6 năm 2010}}</ref><ref>{{chú thích sách|url=http://books.google.com/books?id=NnY5AAAAMAAJ&q=kazakhs+ma+pu-fang&dq=kazakhs+ma+pu-fang|title=Annals of the American Academy of Political and Social Science, Volumes 276-278|author=American Academy of Political and Social Science|year=1951|publisher=American Academy of Political and Social Science|location=|page=152|isbn=|pages=|accessdate =2010-06- ngày 28 tháng 6 năm 2010}}</ref>
 
Thịnh tiến hành chiến dịch thanh trừng tại Tân Cương cùng thời điểm với đợt [[Đại thanh trừng]] của [[Iosif Vissarionovich Stalin|Stalin]] vào năm 1937 trong [[Chiến tranh Tân Cương (1937)]]. Thịnh được mật vụ Xô viết [[NKVD]] hỗ trợ, đã dựng lên một âm mưu [[Trotskyist]] quy mô và một "kế hoạch Trotskyist phát xít" hòng lật đổ Liên Xô. Tổng lãnh sự Xô viết [[Garegin Apresoff]], các tướng [[Mã Hổ Sơn]], [[Ma Shaowu]], [[Mahmud Sijan]], lãnh tụ Tân Cương trên danh nghĩa [[Huang Han-chang]], và [[Hoja-Niyaz]], nằm trong số 435 nhân vật bị cáo buộc trong vụ này. Tân Cương hoàn toàn nằm trong vòng kiểm soát của [[Liên Xô]]. Stalin cũng chống đối [[Đảng Cộng sản Trung Quốc]].<ref>{{chú thích sách|url=http://books.google.com/books?id=IAs9AAAAIAAJ&printsec=frontcover&dq=warlords+and+muslims#v=snippet&q=fascist%20trotskyite%20plotters&f=false|title=Warlords and Muslims in Chinese Central Asia: a political history of Republican Sinkiang 1911-1949|author=Andrew D. W. Forbes|year=1986|publisher=CUP Archive|location=Cambridge, England|isbn=0-521-25514-7|page=151|pages=|accessdate =2010-12- ngày 31 tháng 12 năm 2010}}</ref>
 
Theo yêu cầu của [[Iosif Vissarionovich Stalin|Joseph Stalin]], Thịnh gia nhập Đảng Cộng sản Liên Xô vào tháng 8 năm 1938 và nhận được thẻ đảng số 1859118 trực tiếp từ tay Molotov trong chuyến thăm bí mật đến [[Moskva|Moscow]]. Tân Cương dưới thời Thịnh chỉ là một phần lãnh thổ Trung Quốc trên danh nghĩa, mọi hành động của Thịnh đều do Tổng lãnh sự quán Liên Xô tại Địch Hóa (Hán tự: 迪化, nay là [[Ürümqi|Urumqi]]) chỉ thị. Trong những năm tại vị, ông nổi tiếng là kì thị người thiểu số (nhất là người Hồi và người Kazakh), cũng như là người tàn nhẫn và thích sử dụng đòn tra tấn.
Đến năm 1942, thấy Liên Xô suy yếu vì [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Thế chiến II]], ông quay sang chống Xô viết, trục xuất các cố vấn Xô viết và xử tử nhiều đảng viên Cộng sản người Hán, kể cả [[Mao Trạch Dân]], em trai [[Mao Trạch Đông]], hòng giành được sự ủng hộ của [[Quốc Dân Đảng (định hướng)|Quốc dân đảng]]. Tuy nhiên, khi chiến tranh xoay chuyển có lợi cho [[Liên Xô]] sau [[Trận Stalingrad]], Thịnh lại âm mưu loại bỏ Quốc dân đảng và xin viện trợ Xô viết, nêu rõ trong một bức thư của ông gửi cho Stalin. Stalin từ chối giúp đỡ Thịnh, và gửi lá thư của ông cho lãnh tụ Quốc dân đảng [[Tưởng Giới Thạch]], trong khi Thịnh đánh giá quá thấp tầm ảnh hưởng của Quốc dân đảng tại Tân Cương. Quốc dân đảng loại bỏ Thịnh vào tháng 8 năm 1944.
 
[[Trần Lập Phu]] kể lại những lần gặp gỡ Thịnh trong hồi ký của mình "The storm clouds clear over China: the memoir of Chʻen Li-fu, 1900-1993", theo ông ta, Thịnh rất đa nghi với mọi người xung quanh, đến mức sắp sẵn "súng máy trước tư dinh vào ban đêm... các tủ văn kiện đều khóa kín".<ref>{{chú thích sách|url=http://books.google.com/books?id=MOT_axUIWooC&pg=PA133&dq=sheng+soviet+consul+approved#v=snippet&q=machine%20guns%20filing%20cabinets&f=false|title=The storm clouds clear over China: the memoir of Chʻen Li-fu, 1900-1993|author=Lifu Chen|editors=Hsu-hsin Chang, Ramon Hawley Myers|year=1994|publisher=Hoover Press|edition=illustrated|location=|isbn=0-8179-9272-3|page=132|pages=|accessdate =2011-06- ngày 13 tháng 6 năm 2011}}</ref>
 
Ông rời Tân Cương vào ngày 11 tháng 9, 1944, để nhận chức Bộ trưởng Nông Lâm trong chính quyền [[Trung Hoa Dân Quốc]]. Đi cùng ông là khoảng 50 xe tải, chứa đầy những của cải vơ vét được trong 15 năm tại Tân Cương, bao gồm vàng (khoảng 1,500&nbsp;kg) và bạc (khoảng 15,000&nbsp;kg). Sau đó ông trốn sang [[Đài Loan]] cùng Quốc dân đảng vào cuối [[Nội chiến Trung Quốc]]. Năm 1958, ông cùng viết quyển ''Sinkiang: Pawn or Pivot'' với Allen S. Whiting.
 
Thịnh có 4 người con hai trai hai gái. Hai con gái của ông được sinh tại Tân Cương.<ref name="Vandivert">{{chú thích web|url=http://images.google.com/hosted/life/l?imgurl=79ab61d7d3eab67b&q=sheng%20shih-tsai%20source:life&prev=/images%3Fq%3Dsheng%2Bshih-tsai%2Bsource:life%26hl%3Den%26tbs%3Disch:1|title=Governor Sheng Shih-Tsai (R) sitting with wife and daughter.|last=Vandivert|first=William|publisher=LIFE|accessdate =2010-06- ngày 28 tháng 6 năm 2010}}</ref>
 
==Tham khảo==