Khác biệt giữa các bản “Trận Salamis”

n
AlphamaEditor, Excuted time: 00:00:07.8907403
n (→‎Cân nhắc chiến lược và chiến thuật: xóa từ thừa, replaced: trong trong → trong)
n (AlphamaEditor, Excuted time: 00:00:07.8907403)
|conflict=Trận Salamis
|partof=[[Chiến tranh Hy Lạp-Ba Tư]]
|image=[[FileTập tin:Salamis.png|300px]]
|caption=Hình ảnh vệ tinh của [[Đảo Salamis|Salamis]], với hình eo biển ở bên phải
|date=Tháng 9 năm 480 TCN
Vào năm 490 TCN, Darius đã gửi một đội quân viễn chinh thăm dò vào Hy Lạp, đội quân này nằm dưới sự chỉ huy của [[Datis]] và [[Artaphernes (con trai của Artaphernes)|Artaphernes]] đã tấn công xứ Naxos trước khi họ nhận được các cống nạp thể hiện sự phục tùng từ các đô thành Hy Lạp khác ở xứ [[Cyclades]]. Đội quân này sau đó tiến về phía Eretria bao vây và phá hủy thành bang này.<ref>Herodotus [http://www.perseus.tufts.edu/cgi-bin/ptext?doc=Perseus%3Atext%3A1999.01.0126;query=chapter%3D%231007;layout=;loc=6.100.1 VI, 101]</ref> Cuối cùng nó tiến về phía Athena, đổ bộ xuống vịnh Marathon, tại đó nó trạm trán với một đội quân lớn của Athena. Ở trận đánh kế tiếp, [[trận Marathon]], Người Athena đã có một chiến thắng quyết định làm cho người Ba Tư phải rút lui về nơi xuất phát ở Tiểu Á.<ref>Herodotus [http://www.perseus.tufts.edu/cgi-bin/ptext?doc=Perseus%3Atext%3A1999.01.0126&layout=&loc=6.113 VI, 113]</ref>
 
[[FileTập tin:Map Greco-Persian Wars-en.svg|thumb|left|Bản đồ mô tả thế giới Hy Lạp cổ đại vào thời điểm chiến tranh nổ ra]]
 
Darius bắt đầu xây dựng lại một đội quân khổng lồ mới, một đội quân mà ông ta cho là có thể khuất phục nổi Hy Lạp. Tuy nhiên vài năm 486 TCN, xứ Ai Cập nổi dậy chống lại đế chế Ba Tư, điều này làm cho ông ta phải trì hoãn cuộc viễn chinh Hy Lạp.<ref name = h203>Holland, tr. 203</ref> Sau đó, Darius chết khi đang chuẩn bị tiến vào Ai Cập và quyền cai trị đế chế Ba Tư lúc đó rơi vào tay con trai ông là [[Xerxes I]].<ref>Holland, các trang 206–206</ref> Xerxes nhanh chóng nghiền nát cuộc nổi dậy của người Ai Cập và tiếp tục khởi động lại sự chuẩn bị cho cuộc xâm lược Hy Lạp.<ref name = h208>Holland, các trang 208–211</ref> Kể từ đó cuộc viễn chinh Hy Lạp với đầy đủ quy mô bắt đầu, nó đòi hỏi phải trù tính lâu dài và cần phải cưỡng bức tòng quân.<ref name = h208/> Xerxes quyết định rằng Hellespont ([[eo biển Dardanelles]] ngày nay) sẽ là cây cầu cho quân đội của ông ta tiến vào châu Âu và cho đào một chiếc kênh xuyên qua eo đất núi Athos (Ở gần múi đất này, một hạm đội Ba Tư đã từng bị tiêu diệt trong một trận đánh năm 492 TCN) đây là hai kỳ công hiếm thấy của một tham vọng phi thường vượt quá khả năng của quốc gia ở thời đó. Vào khoảng đầu năm 480 TCN sự chuẩn bị đã hoàn thành, đội quân mà hoàng đế Xerxes đã gây dựng từ Sardes bắt đầu hành quân tiến về phía châu Âu, vượt qua Hellespont bằng hai cây cầu phao.<ref>Herodotus [http://www.perseus.tufts.edu/cgi-bin/ptext?doc=Perseus%3Atext%3A1999.01.0126;query=chapter%3D%231100;layout=;loc=7.35.1 VII, 35]</ref>
== Quân lực hai bên ==
=== Hạm đội Hy Lạp ===
[[FileTập tin:Trireme.jpg|thumb|Tàu Trireme]]
Herodotus nói rằng hạm đội Đồng Minh có 378 tầu chiến kiểu Trireme, vốn được hợp lại từ nhiều thành bang khác nhau(xem chi tiết ở bảng phía dưới).<ref>Herodotus, [http://www.perseus.tufts.edu/cgi-bin/ptext?doc=Perseus%3Atext%3A1999.01.0126&layout=&loc=8.42.1 VIII, 44–48]</ref> Tuy nhiên, trong con số ông ta nêu ra theo sự đóng góp của từng thành bang lại chỉ là 366. Mặc dù vậy Herodotus không nói rõ ràng rằng tất cả 378 chiến hạm đều tham chiến tại Salamis ("''Tất cả các thành bang đều có tàu Trireme...Tổng số tàu chiến đã có...là 378 chiếc"'')<ref name = VIII48/> và ông cũng nói rằng người Aegineta ''"có những đội tàu khác, nhưng họ bảo vệ đất riêng của họ với những đội tầu này và chỉ mang đến chiến đấu tại Salamis với ba mươi đội tầu chiến giỏi nhất"''.<ref name = VIII46/> Như vậy có một sự khác biệt trong số lượng tầu chiến của Đồng minh đồn trú tại Salamis, khoảng 12 chiếc tàu có thể đã được để lại để phòng thủ xứ Aegina.<ref>e.g., Macaulay, in a note accompanying his translation of Herodotus VIII, 85</ref> Cũng theo Herodotus, có hai tàu rời bỏ đội ngũ của người Ba Tư để đến với người Hy Lạp, một chiếc trước khi xảy ra [[trận Artemisium]] và một còn lại trước trận Salamis, do đó, tổng số tầu chiến của hạm đội Đồng Minh Salamis là khoảng 368 (hoặc 380).<ref>Herodotus [http://www.perseus.tufts.edu/cgi-bin/ptext?doc=Perseus%3Atext%3A1999.01.0126;query=chapter%3D%231391;layout=;loc=8.81.1 VIII, 82]</ref>
 
 
=== Trận chính ===
[[FileTập tin:William Rainey - Death of the Persian admiral at Salamis.jpg|thumb|left|Cái chết của Đô đốc Ba Tư Ariabignes (một người em của Xerxes); tranh minh họa từ cuốn ''Plutarch's Lives for Boys and Girls'' khoảng năm 1910]]
Những chi tiết về phần còn lại của trận đánh này nói chung là được chắp ghép sơ sài và không có người nào đã từng tham gia trận đánh lại có một cái nhìn tổng thể về cuộc chiến cả.<ref name = h320/> Tàu Trireme thường được trang bị một mũi nhọn lớn ở phía trước, có thể dùng để đâm chìm tàu địch, hoặc ít nhất là vô hiệu hóa tàu địch bằng cách cắt phá hỏng hàng chèo ở một bên.<ref name = L34/> Nếu đâm không được, lính thủy sẽ nhảy lên tàu đối phương và một trận đánh tay đôi giữa các tầu chiến của đôi bên sẽ nổ ra. Cả hai bên đều có lính thủy trên tàu dành cho tình huống này; người Hy Lạp với Hoplite được trang bị đầy đủ vũ trang;<ref name = h320/> phía Ba Tư có lẽ là với bộ binh được trang bị nhẹ hơn.<ref>Herodotus [http://www.perseus.tufts.edu/cgi-bin/ptext?doc=Perseus%3Atext%3A1999.01.0126&layout=&loc=7.184 VII, 184]</ref>
 
== Hậu quả ==
{{chính|Cuộc xâm lược Hy Lạp lần thứ hai của Ba Tư}}
[[FileTập tin:Snake column Hippodrome Constantinople 2007.jpg|thumb|upright|[[Cột rắn]], biểu tượng của liên minh Hy Lạp, được dựng nên sau chiến thắng tại Plataea; hiện đang nằm tại [[Trường đua Constantinopolis]]]]
Bất chấp những hậu quả trước mắt từ trận Salamis, Xerxes đã cố gắng xây dựng một cầu phao hoặc đường đắp cao vượt qua eo biển, mục đích sử dụng quân đội của mình để tấn công Athen, tuy nhiên hạm đội Hy Lạp bây giờ đang tuần tra một cách tự tin xung quanh eo biển, điều này chứng tỏ có cố gắng tiếp cũng vô ích. Herodotus cho chúng ta biết Xerxes đã tổ chức một hội đồng chiến tranh. Lúc đó Đô đốc của Ba Tư, tướng Mardonius cố gắng làm rõ ý nghĩa của thất bại ở trận Salamis:
 
* Burn, A.R. (1985). "Persia and the Greeks" in The Cambridge History of Iran, Volume 2: The Median and Achaemenid Periods, Ilya Gershevitch, ed. Cambridge University Press.
* Fehling, D. (1989). ''Herodotus and His "Sources": Citation, Invention, and Narrative Art''. Translated by J.G. Howie. Leeds: Francis Cairns.
* {{Citechú bookthích sách| last=Finley | first=Moses | title= Thucydides – History of the Peloponnesian War (translated by Rex Warner)| chapter = Introduction | publisher= Penguin | year= 1972 | ISBN = 0-14-044039-9}}
* Garoufalis, Demetrius N. (1998). ''[http://issuu.com/demetriosg/docs/salamis Η ναυμαχία της Σαλαμίνας, η σύγκρουση που άλλαξε τον ρού της ιστορίας]'' (''The battle of Salamis, the conflict that changed the flow of history''), Στρατιωτική Ιστορία (Military History) magazine, issue 24, August.
* Green, Peter (1970). ''The Year of Salamis, 480–479 BC.'' London: Weidenfeld and Nicolson (ISBN 0-297-00146-9).
* Köster, A.J. (1934). ''Studien zur Geschichte des Antikes Seewesens. Klio Belheft'' 32.
* Lazenby, JF. (1993). ''The Defence of Greece 490–479 BC.'' Aris & Phillips Ltd. (ISBN 0-85668-591-7).
* Lee, Felicia R. (2006). ''[http://www.nytimes.com/2006/11/27/arts/27greek.html?_r=2&pagewanted=all A Layered Look Reveals Ancient Greek Texts]'' ''The New York Times'', ngày 27 Novembertháng 11 năm 2006.
* {{chú thích web |url= http://www.loyno.edu/history/journal/1998-9/Pipes.htm|title=Herodotus: Father of History, Father of Lies|accessdate =2008-01- ngày 18 tháng 1 năm 2008 |author=Pipes, David|archiveurl = http://web.archive.org/web/20080127105636/http://www.loyno.edu/history/journal/1998-9/Pipes.htm |archivedate = Januaryngày 27, tháng 1 năm 2008|date=1998-9}}
* Strauss, Barry (2004). ''The Battle of Salamis: The Naval Encounter That Saved Greece—and Western Civilization''. New York: Simon and Schuster (hardcover, ISBN 0-7432-4450-8; paperback, ISBN 0-7432-4451-6).