Mở trình đơn chính

Các thay đổi

Trong những năm 80, khái niệm indie rock và alternative rock vẫn bị sử dụng lẫn lộn<ref name=AllMusicIndie>{{Citation | last =| title = Indie rock | journal = Allmusic| date = |url =http://www.allmusic.com/explore/style/d2687| archiveurl =http://www.webcitation.org/5wTaUVdId| archivedate =ngày 13 tháng 2 năm 2011}}</ref>. Tới giữa những năm 90, những trào lưu mới bắt đầu có được những mối quan tâm lớn hơn, từ grunge tới Britpop, post-grunge và pop-punk, dẫn tới alternative dần bị mất đi ý nghĩa vốn có<ref name=AllMusicIndie>{{Citation | last =| title = Indie rock | journal = Allmusic| date = |url =http://www.allmusic.com/explore/style/d2687| archiveurl =http://www.webcitation.org/5wTaUVdId| archivedate =ngày 13 tháng 2 năm 2011}}</ref>. Những ban nhạc đó ngày một có được ít thành công thương mại hơn và rồi dần gia nhập các nhãn đĩa indie<ref name=AllMusicIndie>{{Citation | last =| title = Indie rock | journal = Allmusic| date = |url =http://www.allmusic.com/explore/style/d2687| archiveurl =http://www.webcitation.org/5wTaUVdId| archivedate =ngày 13 tháng 2 năm 2011}}</ref>. Họ thường đặc trưng bởi việc chỉ phát hành album qua các hãng đĩa tự do hoặc của chính họ, trong khi quảng bá chúng qua các tour diễn, truyền miệng, các buổi phát thanh và cả các buổi phát sóng tại các trường học<ref name=AllMusicIndie>{{Citation | last =| title = Indie rock | journal = Allmusic| date = |url =http://www.allmusic.com/explore/style/d2687| archiveurl =http://www.webcitation.org/5wTaUVdId| archivedate =ngày 13 tháng 2 năm 2011}}</ref>. Được gắn liền với các phong tục hay thói quen hơn quan điểm âm nhạc, indie rock tự bao hàm nhiều phong cách khác nhau, từ hard-edged, grunge như [[The Cranberries]] hay [[Superchunk]], tới do-it-yourself như [[Pavement]] và punk-folk như [[Ani DiFranco]]<ref name=Bogdanov2002USAlternative>S. T. Erlewine, "American Alternative Rock / Post Punk", in V. Bogdanov, C. Woodstra and S. T. Erlewine, ''All Music Guide to Rock: the Definitive Guide to Rock, Pop, and Soul'' (Milwaukee, WI: Backbeat Books, 3rd edn., 2002), ISBN 0-87930-653-X, pp. 1344–6.</ref><ref name=Bogdanov2002UKAlternative/>. Với indie, các nghệ sĩ nữ xuất hiện tới tỉ lệ lớn hơn hẳn các thể loại khác, từ đó dẫn tới sự hình thành của phong cách [[Riot grrrl]]<ref>M. Leonard, ''Gender in the Music Industry: Rock, Discourse and Girl Power'' (Aldershot: Ashgate, 2007), ISBN 0-7546-3862-6, p. 2.</ref>. Indie rock phát triển ở rất nhiều quốc gia, các nhóm nhạc vẫn có được sự nổi tiếng nhất định để tồn tại song thường họ vẫn ít được biết tới ngoài biên giới<ref>J. Connell and C. Gibson, ''Sound Tracks: Popular Music, Identity, and Place'' (Abingdon: Routledge, 2003), ISBN 0-415-17028-1, pp. 101–3.</ref>.
 
Tới cuối những năm 1990, rất nhiều tiểu thể loại vốn bắt nguồn từ làn sóng alternative của những năm 80 đã hòa vào khái niệm của indie. [[nhac lo-fi|Lo-fi]] (viết tắt của low fidelity) từ phong trào do-it-yourself rời bỏ những kỹ thuật thu âm tốt và được đi đầu bởi những nghệ sĩ như [[Beck]], [[Sebadoh]] hay [[Pavement]]<ref name=Bogdanov2002USAlternative>S. T. Erlewine, "American Alternative Rock / Post Punk", in V. Bogdanov, C. Woodstra and S. T. Erlewine, ''All Music Guide to Rock: the Definitive Guide to Rock, Pop, and Soul'' (Milwaukee, WI: Backbeat Books, 3rd edn., 2002), ISBN 0-87930-653-X, pp. 1344–6.</ref>. Những nhóm như [[Talk Talk]] và [[Slint]] giúp truyền cảm hứng cho [[post-rock]], một phong cách nhạc ảnh hưởngh bởi jazz và âm nhạc điện tử, tiên phong bởi những nhóm chủ chốt như [[Bark Psychosis]] và tiếp nối bởi [[Tortoise (ban nhạc)|Tortoise]], [[Stereolab]] và [[Laika (ban nhạc)|Laika]]<ref name="S. Taylor, 2006 pp. 154-5">S. Taylor, ''A to X of Alternative Music'' (London: Continuum, 2006), ISBN 0-8264-8217-1, pp. 154–5.</ref><ref name=AMpostrock>{{Citation | last = | title =Post rock| journal = Allmusic| date = | url={{Allmusic|class=explore|id=style/d2682|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wUOZlt8K| archivedate =ngày 14 tháng 2 năm 2011}}.</ref>, dẫn tới thứ âm nhạc có kết cấu phức tạp và chắc chắn hơn với thứ guitar chơi cầu kỳ bởi các nhóm như Polvo hay Chavez<ref>{{Citation | last = | title =Math rock| journal = Allmusic| date = | url={{Allmusic|class=explore|id=style/d4560|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wUOlnegC| archivedate =ngày 14 tháng 2 năm 2011}}.</ref>. Space rock trở về với progressive, tớiđặt nhữngnặng giớivề hạn[[drone cực(nhạc)|drone]] tiểu(loại haynhạc cựclập đạilại) bởivà âm nhạc tối giãn như [[Spacemen 3]], hoặc 2 nhóm nhạc vượt xa mọi giới hạn là Spectrum và [[Spiritualized]], rồi sau đó là những nhóm như Flying Saucer Attack, [[Godspeed You! Black Emperor]] và Quickspace<ref>{{Citation | last = | title =Space rock| journal = Allmusic| date = | url=http://www.allmusic.com/explore/style/space-rock-d2784 | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wUOtn84J| archivedate =ngày 14 tháng 2 năm 2011}}</ref>. Trái lại, sadcore nhấn mạnh nỗi đau và sự chịu đựng qua âm nhạc điện cũng như acoustic giàu tính giai điệu với American Music Club hay [[Red House Painters]]<ref>{{Citation | last = | title =Sadcore| journal = Allmusic| date = |url={{Allmusic|class=explore|id=style/d4588|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wUP1oqYG | archivedate =ngày 14 tháng 2 năm 2011}}.</ref>, trong khi sự xuất hiện của Baroque pop như một sự đối lập với lo-fi và experimental khi nhấn mạnh vào giai điệu và nhạc rock truyền thống với những nhóm như [[Arcade Fire]], Belle and Sebastian và Rufus Wainright<ref>{{Citation | last = | title =Chamber pop| journal = Allmusic| date = | url={{Allmusic|class=explore|id=style/d4445|pure_url=yes}} | archiveurl =http://www.webcitation.org/5wUP95eY9 | archivedate =ngày 14 tháng 2 năm 2011}}.</ref>.
 
=== Alternative metal, rap rock và nu metal ===