Khác biệt giữa các bản “Nhà Liêu”

n
không có tóm lược sửa đổi
(clean up, replaced: → using AWB)
n
Tại Tây Bắc, Da Luật Đại Thạch triệu tập tàn dư của triều Liêu, khống chế khu vực cao nguyên Mông Cổ và đông bộ [[Tân Cương]]. Năm [[1130]], do chịu áp lực từ quân Kim, Da Luật Đại Thạch quyết định từ bỏ cao nguyên Mông Cổ, suất bộ tây chinh. Năm [[1132]], Da Luật Đại Thạch xưng đế tại Diệp Mê Lập (nay thuộc [[Ngạch Mẫn]], Tân Cương), sử gọi là [[Tây Liêu]], thủ đô tại [[Balasagun|Hổ Tư Oát Lỗ Đóa]].{{r|竺沙雅章| page=120}} Tây Liêu từng có lúc khuếch trương đến các nước Trung Á ngày nay, trở thành cường quốc ở Trung Á. Sau khi Da Luật Đại Thạch mất vào năm [[1143]], Tây Liêu lần lượt do [[Tiêu Tháp Bất Yên]], [[Da Luật Di Liệt]], [[Da Luật Phổ Tốc Hoàn]], [[Da Luật Trực Lỗ Cổ]] và [[Khuất Xuất Luật]] thống trị. Cuối cùng, Tây Liêu bị quân đội [[đế quốc Mông Cổ|Mông Cổ]] của [[Thành Cát Tư Hãn]] tiêu diệt, tồn tại được 87 năm.{{r|中國文明史|page=13}}
 
Năm [[1212]], tông thất triều Liêu là [[Da Luật Lưu Ca (nhà Nguyên)|Da Luật Lưu Ca]] tại khu vực Long An (nay là [[Nông An]], [[Cát Lâm]]), Hàn châu (nay là [[Lê Thụ]], Cát Lâm]] khởi binh phản kháng triều Kim, đồng thời được đế quốc Mông Cổ giúp đỡ. Tháng ba năm 1212, Da Luật Lưu Ca xưng vương, đặt quốc hiệu là Liêu, sử gọi là [[Đông Liêu]]. Da Luật Lưu Ca sau khi kiến quốc thì quy phụ đế quốc Mông Cổ, trở thành nước phiên thuộc, đến năm [[1270]] thì Nguyên Thế Tổ [[Hốt Tất Liệt]] triệt phiên, Đông Liêu chính thức diệt vong. Đầu năm [[1216]], em của Da Luật Lưu Ca là [[Da Luật Tư Bất]] làm phản, xưng đế tại Trừng châu, sử gọi là [[Hậu Liêu]]. Không lâu sau, Da Luật Tư Bất bị bộ hạ sát hại, mọi người tôn [[Da Luật Khất Nô]] làm giám quốc. Đến mùa thu cùng năm, [[Mộc Hoa Lê]] suất quân Mông Cổ đông hạ, Da Luật Khất Nô không thể chống lại, suất 9 vạn người Khiết Đan vượt qua sông [[Áp Lục]] tiến vào lãnh thổ Cao Ly. Không lâu sau, các quý tộc Khiết Đan tự tàn sát lẫn nhau, Hậu Liêu cuối cùng diệt vong vào năm [[1220]].
 
== Cương vực và hành chính ==