Khác biệt giữa các bản “Ngũ đại Thập quốc”

n
không có tóm lược sửa đổi
n (→‎Tham khảo: AlphamaEditor, thêm thể loại, Excuted time: 00:00:22.2622260)
n
[[Tập tin:Rest Stop for the Khan part2.png|thumb|left|280px|[[Trác Hiết đồ]] (một phần); miêu tả cảnh khả hãn, yên chi và bộ hạ tộc Khiết Đan tụ tập ăn uống sau khi ra ngoài săn bắn]]
 
Thời Ngũ Đại, ở phương bắc thì tộc Khiết Đan là mạnh nhất. Thời Đường, tộc Khiết Đan được triều đình thụ phong là [[Tùng Mạc đô đốc phủ]], đến hậu kỳ triều Đường, thủ lĩnh Điệt Thứ bộ của tộc Khiết Đan là [[Da Luật A Bảo Cơ]] nổi lên và chinh phục các bộ khác, đến năm 907 thì tức [[khả hãn]] vị. Ông lần lượt trấn áp các cuộc phản loạn quý tộc Khiết Đan và chinh phục các bộ lạc [[người Hề|tộc Hề]], [[Thất Vi]], [[Người Kyrgyz|Hiệt Kiệt Tư]], [[Trở Bốc]] tại khu vực [[Mạc Bắc]], về mặt quân sự và kinh tế đều rất cường thịnh. Năm 915, Da Luật A Bảo Cơ sau khi xuất chinh và giành được thắng lợi trước tộc [[Thất Vi]] thì về nước, song bị buộc phải giao lại hãn vị. Không lâu sau, ông kiến thành ở ven bờ [[sông Loan|Loan Hà]], sang năm sau thì kiến lập Khiết Đan Quốc, tức Liêu Thái Tổ. Khiết Đan Quốc bắt người Trung Nguyên, tiếp nhận lưu dân đến tị nạn chiến tranh ở Hà Bắc, tin dùng những người Hán như [[Hàn Diên Huy]], [[Hàn Tri Cổ]], [[Khang Mặc Kỳ]] và [[Lô Văn Tiến]], xem như công thần. Năm 925, Khiết Đan Quốc đông chinh [[Vương quốc Bột Hải|Bột Hải Quốc]], sau có ý đồ tiến xuống phía nam chiếm cứ Trung Nguyên. Sau khi Da Luật Đức Quang kế vị, thừa cơ Hậu Đường phát sinh nội loạn, tiếp nhận thỉnh cầu của Thạch Kính Đường mà xuất binh hiệp trợ giúp Kính Đường diệt trừ Hậu Hán và kiến quốc Hậu Tấn, Khiết Đan Quốc thu được Yên Vân thập lục châu. Đến khi Hậu Tấn Xuất Đế kế vị, Hậu Tấn lại không muốn xưng thần với Khiết Đan, lạm sát thương nhân Khiết Đan. Do vậy, Da Luật Đức Quang xuất binh nam chinh song chưa thu được thành quả, sau do nhờ đại tướng [[Đỗ Trọng Uy]] của Hậu Tấn đầu hàng, Da Luật Đức Quang chiếm Biện châu, kiến quốc triều Liêu, tức Liêu Thái Tông. Tuy nhiên, sau đó quân Liêu tịch thu cỏ và ngũ cốc, lạm sát [[người Hán]], khiến người Trung Nguyên khởi binh kháng Liêu, Liêu Thái Tông trở về phía bắc và qua đời ở Sát Hồ Lâm. Sau đó, triều Liêu sút kém đi nhiều, song sau đó vẫn phù trì cho Bắc Hán, chiến tranh với Hậu Chu thì thua nhiều thắng ít, cuối cùng đến năm 959 thì bị Hậu Chu Thế Tông đoạt mất Doanh châu, Mạc châu. Sau khi triều Tống thành lập và tiêu diệt Bắc Hán, thống nhất Trung Quốc, trong cùng năm bắc phạt triều Liêu. Các danh tướng Liêu như [[Da Luật Sa]], [[Da Luật LưuHưu Ca]], [[Da Luật Tà Chẩn]] giao chiến với quân Tống ở Cao Lương Hà (nay bên ngoài Tây Trực Môn của Bắc Kinh), kết quả quân Liêu thành công trong việc đánh bại quân Tống.{{refTag|name=五代外族概論}}
 
Ngoài ra, vào thời Ngũ Đại ở phía bắc và đông bắc còn có các nước Hề, Thổ Dục Hồn, Thất Vi, Bột Hải. Thời Đường, Hề Quốc được thụ phong [[Nhiêu Lạc đô đốc phủ]], đến trung hậu kỳ triều Đường thì nhiều lần xâm nhập biên cương Đại Đường. Sau này, Hề Quốc bị Khiết Đan Quốc chinh phục, người Khiết Đan kiến lập Trung Kinh để thống trị, rồi dần dần đồng hóa tộc Hề. Bột Hải Quốc là một cường quốc vào hậu kỳ triều Đường, đến năm 926 thì bị quân Khiết Đan tiêu diệt, Khiết Đan Quốc thành lập [[Đông Đan Quốc]] trên lãnh thổ cũ của Bột Hải Quốc, cho [[Thái tử]] Khiết Đan [[Da Luật Bội]] nhậm chức "hoàng vương". Sau khi Liêu Thái Tông kế vị, ông phế trừ Đông Đan Quốc, kiến lập Đông Kinh để quản lý. Thổ Dục Hồn bộ nguyên định cư ở khu vực [[Thanh Hải, Trung Quốc|Thanh Hải]], song sau khi bị [[Thổ Phồn]] tiêu diệt thì tiến về phía đông đến khu vực Sóc Phương, Hà Đông, sang thời Ngũ Đại thì phân tán như tại Uý châu. Năm 936, Hậu Tấn cắt nhượng Yên Vân thập lục châu cho Khiết Đan Quốc, khiến một bộ phận tộc Thổ Dục Hồn thần phục Khiết Đan, song có không ít người chạy đến Thái Nguyên, đến chỗ Hà Đông tiết độ sứ Lưu Tri Viễn.{{refTag|name=五代外族概論}}