Khác biệt giữa các bản “Gia Luật Lưu Ca (nhà Liêu)”

n
 
==Gia đình==
* Em trai là Bồn Đô (? – 951), tính tàn nhẫn, có sức mạnh, da có vảy như rắn. Năm Thiên Lộc đầu tiên (947), nhờ là tộc thuộc nên được nhận chức Bì thất tường ổn. Năm thứ 2 (948), cùng Lưu Ca mưu phản, được miễn chết, đi sứ nước Hiệt Kiết Tư ([[KyrgyzstanNgười Kyrgyz|Kyrgyz]]). Sau khi trở về, tham dự vào cuộc nổi loạn của [[Da Luật Sát Cát]] (con trai của An Đoan), bị lăng trì mà chết.<ref>Da Luật Sát Cát từng tố cáo cha mình và bọn Tiêu Hàn mưu phản (lần sau, không phải cuộc mưu phản có sự tham gia của Lưu Ca), đến nay lại tổ chức mưu phản và giết chết Thế Tông, sau đó bị [[Liêu Mục Tông]] lừa giết đi.</ref>
* Em trai khác mẹ là Hóa Cát Lý, Hề Kiển (? – 954). Năm Ứng Lịch đầu tiên (951), Hóa Cát Lý, Hề Kiển không có quan chức, nhưng nhờ là tộc thuộc, nên được đãi ngộ ưu ái. Năm thứ 3 (953), có người tố cáo Hóa Cát Lý, Hề Kiển tham dự âm mưu nổi loạn của [[Da Luật Uyển]] (con trai của Da Luật Lý Hồ), hai người bị ngục, không nhận tội. Được tha. Mùa xuân năm thứ 4 (954), lại mưu phản, nên bị làm tội.<ref>'''Liêu sử quyển 6 – Mục Tông kỷ thượng''' không nhắc đến Hóa Cát Lý, Hề Kiển, nhưng có nhắc đến lang quân Kê Kiền cùng Da Luật Uyển, [[Da Luật Địch Liệt]] mưu phản, liên lụy đến bọn Thái Bình vương Da Luật Yểm Tát Cát, Lâm nha Hoa Cát, lang quân Tân La. Năm sau, Kê Kiền, Hòa Cát bị xử tử, còn Uyển, Địch Liệt được phóng thích.</ref>