Khác biệt giữa các bản “Hoàn Nhan Doãn Tế”

Việt hóa
n
(Việt hóa)
}}
 
'''Hoàn Nhan Vĩnh Tế''' ([[chữ Hán]]: 完颜永济, [[1168]]?—[[11 tháng 9]], [[1213]]), nguyênvốn danhtên là '''Hoàn Nhan Doãn Tế''' (完颜允济), [[tên tự]] là '''Hưng Thắng''' (興勝), là hoàng đế thứ 7 của [[nhà Kim]] trong [[lịch sử Trung Quốc]], Ông tại vị trong 5 năm (29/12/[[1208]] – 11/9/[[1213]]).
 
Hoàn Nhan Vĩnh Tế là con trai thứ bảy của [[Kim Thế Tông]] Hoàn Nhan Ung, mẫu thânmẹ là Nguyên phi họ Lý. Sau khi người cháu là [[Kim Chương Tông]] qua đời mà không có người nối dõi, Vĩnh Tế thừa cơ đoạt lấy hoàngngôi vịvua.
 
Trong khoảng thời gian cai trị của ông, [[Thành Cát Tư Hãn]] của [[Mông Cổ]] đem quân xâm lược nước Kim, nước Kim liên tiếp bị thua trận. Bên trong, Hữu phó soát [[Ngột Thạch Liệt Hồ Sa Hổ]] do có ý bất mãn, nhân có hội nắm binh quyền đã tạo phản, sát hại Vĩnh Tế vào năm [[1213]] rồi lập Dực vương Tuân lên nối ngôi, là [[Kim Tuyên Tông]].
== Thân thế và cuộc sống ban đầu ==
 
Hoàn Nhan Doãn Tế là em trai của [[Hoàn Nhan Doãn Cung]], là thúcchú của [[Kim Chương Tông]]. Ông là con trai thứ 7 của [[Kim Thế Tông]] Hoàn Nhan Ung, mẹ là Lý nguyên phi, chào đời vào năm [[1168]] dưới triều [[Kim Thế Tông]]. Vào năm Đại Định thứ 11 (1171), ông được phong làm Tiết vương, cùng năm cải thành Phong vương. Khi trưởng thành, Vệ vương Vĩnh Tế dung mạo tuấn tú, râu đẹp, tính tình kiệm ước không thích khoe khoang. Năm [[1185]], được gia phong Khai phủ nghi đồng tam ti, năm sau là Bí thư giám, rồi lại chuyển làm Thượng thư bộ Hình. Năm [[1187]], đổi làm Điện tiền đô điểm kiểm<ref name="KS13">''[[Kim sử]]'', [[:zh:s:金史/卷13|quyển 13]]</ref>.
 
Năm [[1189]], Kim Thế Tông mất, người cháu đích là Cảnh lên kế ngôi, là [[Kim Chương Tông]]. Cùng năm đó ông được đổi phong làm Lộ vương, vì kiêng húy Hiển Tông (Hoàn Nhan) Doãn Cung (bố Chương Tông, anh Doãn Tế) nên ông bị đổi tên thành Vĩnh Tế.
 
Vào năm Thái Hòa thứ 8 (1208), nông lịch ngày 20 thang 11, Kim Chương Tông tửlâm bệnh mất, do không có con, Vệ Vương Hoàn Nhan Doãn Tế trở thành hoàng đế.
 
[[Thành Cát Tư Hãn]] có ý tấn công Kimnước QuốcKim, đầu tiên xuất binh tấn công thần thuộc của Kim triều là [[Tây Hạ]],. Tây Hạ hướng sang Kim cầu viện song Vệ Thiệu Vương tọangồi thịnhìn không ứng cứu. Tây Hạ sau đó khuất phục Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn vào năm Đại An thứ 3 (1212) đã khởi sự tấn công Kim song thất bại trước Kimquân binhKim. Vào tháng 9, quân Mông Cổ tiến đến gần Trung Đô, do thành phòng vệ kiên cố và có trọng binh phòng thủ nên đành phải rút lui. Năm sau, Thành Cát Tư Hãn lại tấn công Kimnước QuốcKim, bao vây Tây Kinh Đại Đồng phủ. Cùng năm, một người Kim tên là [[Da Luật Lưu Ca (nhà Nguyên)|Da Luật Lưu Ca]] tại tỉnh Cát Lâm đã khởi binh phản Kim, trong vài tháng đã phát triển đến trên mười vạn người. Da Luật Lưu Ca dựa vào Mông Cổ, tại phụ cận [[Xương Đồ]], [[Liêu Ninh]] ngày nay đã dánh bại 60 vạn quân Kim. Tình hình Kim trở nên xấu đi.
 
Vệ Thiệu Vương đối đãi do dự, không có tài an bang trị quốc, chỉ biết thủ thành. Ông không khéo dùng người, không phân biệt trung gian, cuối cùng dẫn đến đại họa sát thân. Năm Nguyên Ninh thứ nhất (1213), vào tháng 8, quân Mông Cổ lại tiến sát Trung Đô, hữu phó nguyên súy Hồ Sa Hổ (Hột Trạch Liệt Chấp Trung) khởi binh làm phản, giết chết Vệ Thiệu Vương. Tháng 9, Hoàn Nhan Tuần lên ngôi hoàng đế, tức [[Kim Tuyên Tông]]. Hồ Sa Hổ thỉnh phế Doãn Tế làm thứ nhân, dẫn theo hơn ba trăm bá quan đến tấu với triều đình. Kim Tuyên Tông bất đắc dĩ phải giáng Vệ Thiệu Vương thành Đông Hải quận hầu. Đến tháng 10, nguyên súy hữu giám quân [[Truật Hổ Cao Kỳ]] giết chết Hồ Sa Hổ.
 
Năm Trinh Hữu thứ 4 (1216), Kim Tuyên Tông ra chiếu truy phục Doãn Tế là Vệ Vương, thụy là Thiệu, hậuđời thếsau gọi là Vệ Thiệu Vương.
 
== Gia đình ==
===Thê thiếp===
* [[Vệ Thiệu Vương Hậu]] Đồ ĐơnĐan thị
* [[Khâm Thánh phu nhân]] Viên thị
=== Con cái ===
61.544

lần sửa đổi