Khác biệt giữa các bản “Khởi nghĩa Lư Tuần”

n (→‎Dùng dằng Kiến Khang: phương ngữ, replaced: cỡi → cưỡi)
Lúc này thế lực quân phiệt cát cứ 2 châu Giang, Kinh là [[Hoàn Huyền]] đã đánh chiếm Kiến Khang <ref>Nay là Nam Kinh</ref>, nắm giữ chính quyền Đông Tấn, vì muốn phủ dụ khu vực Chiết Đông, lấy Lư Tuần làm Vĩnh Gia thái thú. Tuần tuy nhận chức nhưng vẫn ngầm khuếch trương thế lực. Tháng giêng năm Nguyên Hưng thứ 2 ([[403]]), Lư Tuần tiến vào Đông Dương <ref>Nay là [[Kim Hoa]], [[Chiết Giang]]</ref>, bị [[Lưu Tống Vũ Đế|Lưu Dụ]] đánh bại, chạy đến Vĩnh Gia <ref>Nay là [[Ôn Châu]], Chiết Giang</ref>. Sau đó, nghĩa quân giao chiến với Lưu Dụ ở một dải Đông Dương, Vĩnh Gia và Tấn An <ref>Nay là [[Phúc Châu]], [[Phúc Kiến]]</ref> liên tiếp thất bại, đại soái Trương Sĩ Đạo tử trận, Lư Tuần bèn đưa quân theo đường biển rút về phía nam.
 
Tháng 10 năm Nguyên Hưng thứ 3 ([[404]]), nghĩa quân đánh chiếm [[Phiên Ngung, Quảng Châu|Phiên Ngung]]<ref>Nay là thành phố [[Quảng Châu]]</ref>, rồi đến [[Thủy Hưng]]<ref>Nay là tây nam [[Thiều Quan]], [[Quảng Đông]]</ref>, tự xưng Bình nam tướng quân, coi việc Quảng Châu. Khi ấy [[Lưu Tống Vũ Đế|Lưu Dụ]] mới bình định [[Hoàn Huyền]], đang cần củng cố quyền lực, chưa thể tiến hành chính thảo, vào tháng 4 năm Nghĩa Hi đầu tiên (405), nhậm mệnh cho Lư Tuần làm Chinh lỗ tướng quân, Quảng Châu thứ sử, Bình việt trung lang tướng. Lư Tuần lấy anh rể [[Từ Đạo Phúc]] làm Thủy Hưng tướng.
 
==Diễn biến==
===Khởi binh Thủy Hưng===
Tháng 2 năm Nghĩa Hi thứ 6 ([[410]]), nhân lúc [[Lưu Tống Vũ Đế|Lưu Dụ]] soái binh tiến đánh [[Nam Yên]], binh lực Kiến Khang trống rỗng, Từ Đạo Phúc đến Phiên NguNgung thuyết phục Lư Tuần, cùng nhau khởi binh ở Thủy Hưng. Lư Tuần soái quân tây lộ men theo Tương Thủy vượt [[Nam Lĩnh|Ngũ Lĩnh]], đi qua các quận Trường Sa <ref>Nay là [[Trường Sa]], [[Hồ Nam]]</ref>, Ba Lăng <ref>Nay là [[Nhạc Dương (định hướng)|Nhạc Dương]], [[Hồ Nam]]</ref>, tiến thẳng đến Giang Lăng<ref>Nay là [[Giang Lăng]], [[Hồ Bắc]]</ref> (châu trị của Kinh Châu); Từ Đạo Phúc soái quân đông lộ thuận dòng Cống Thủy tiến xuống Lư Lăng <ref>Nay là bắc [[Cát Thủy]], [[Giang Tây]]</ref>, Dự Chương<ref>Nay là [[Nam Xương]], [[Giang Tây]]</ref>, dựa vào thuyền hạm to cao mà đánh cho quan quân đại bại, giết chết Giang Châu thứ sử [[Hà Vô Kị]].
 
Lưu Dụ nghe tin Vô Kị tử trận, chỉ mang vài mươi kỵ binh, đêm ngày quay về Kiến Khang. Khi ấy, Lư, Từ hợp binh đông hạ, được hơn 10 vạn người, quyết định từ bỏ Giang Lăng, nhắm vào Kiến Khang. Vào tháng 5, nghĩa quân ở cù lao Tang Lạc <ref>Nay là đông bắc [[Cửu Giang]], Giang Tây, ở giữa Trường Giang</ref>, cũng dựa vào ưu thế về thuyền hạm mà đánh bại 2 vạn quân của Dự Châu thứ sử [[Lưu Nghị (Đông Tấn)|Lưu Nghị]]. Nghĩa quân thừa thắng tiến đến Hoài Khẩu <ref>Là cửa sông nơi sông Tần Hoài chảy vào Trường Giang, nay là tây bắc [[Nam Kinh]]</ref>, đóng quân ở Thái Châu (cù lao Thái), áp sát Kiến Khang.
Tháng 10, Lưu Dụ soái bọn Duyện Châu thứ sử [[Lưu Phiên]], Ninh sóc tướng quân [[Đàn Thiều]] tấn công nghĩa quân. Tháng 11, quân Tấn đánh chiếm Nam Lăng ở cửa khẩu hồ Bành Lễ <ref>Nay là hồ [[Bà Dương]]</ref>, nghĩa quân tổn thất hơn trăm chiến hạm và hơn 5000 người.
 
Lư Tuần đánh tiếng sẽ thuận dòng ra biển, nhưng Lưu Dụ không hề bị mê hoặc, tiến quân đến đóng ở đồn thú Đại Lôi <ref>Nay là [[Vọng Giang]], [[An Huy]]</ref> thuộc Lôi Trì <ref>Nay là hồ [[Long Cảm]], phía đông [[Vọng Giang]], [[An Huy]]</ref>, đồng thời phái bộ tướng [[Vương Trọng Đức]] soái 200 cỗ chiến hạm đến Cát Dương ở hạ du thiết lập phòng tuyến, đề phòng nghĩa quân ra biển thật. Tháng 12, Lư Tuần, Từ Đạo Phúc soái vài vạn quân từ Tầm Dương xuất phát, ở phụ cận Đại Lôi cùng Lưu Dụ quyết chiến. Lưu Dụ một mặt mai phục bộ kỵ ở bờ tây, một mặt tận dụng ưu thế thuận gió cùng chiến hạm nhanh nhẹ, mà xua thủy quân tấn công, ép thuyền hạm của nghĩa quân dạt vào bờ tây. Đài quân từ trên bờ tung lửa đốt thuyền, khiến cho nghĩa quân đại bại. Lư Tuần chạy về Tầm Dương, muốn lui về Quảng Châu, bèn thiết lập công sự ở Tả Lí <ref>Chính là cửa khẩu của hồ Bà Dương. Nay là tây bắc [[Đô Xương]], Giang Tây, dưới núi Tả Lễ</ref>. Quân Tấn công phá Tả Lí, nghĩa quân liều chết vẫn không giữ nổi, tổn thất lên đến vạn người. Lư Tuần chạy về Phiên NguNgung, Từ Đạo Phúc chạy về Thủy Hưng.
 
===Thua mất Quảng Châu===
Tháng 2 năm Nghĩa Hi thứ 7 (411), Duyện Châu thứ sử [[Lưu Phiên]] đến [[Lĩnh Nam]], phái Tư nghị tham quân [[Mạnh Hoài Ngọc]] tiến quân vào Thủy Hưng, Hà Gian thái thú [[Khoái Ân]] chém chết Từ Đạo Phúc.
 
Tháng 3, Lư Tuần về đến Phiên NguNgung, thì thành đã bị Kiến uy tướng quân [[Tôn Xử]] đưa 3000 quân theo đường biển đến chiếm mất từ tháng 11 năm trước. Lư Tuần tấn công nhiều ngày không hạ được thành, Chấn vũ tướng quân [[Thẩm Điền Tử]] đến cứu viện. Tôn Xử cùng Điền Tử trong ngoài giáp kích, Lư Tuần bỏ chạy. Tôn, Thẩm hợp binh lần lượt đuổi kịp nghĩa quân ở Thương Ngô, Úc Lâm, Ninh Phổ, đều giành thắng lợi. Nhưng vì Tôn Xử phát bệnh, Điền Tử cũng dừng lại, nên Lư Tuần chạy thoát đến Giao Châu.
 
===Trầm mình Giao Châu===
Người dùng vô danh