Khác biệt giữa các bản “Hán Vũ Đế”

Năm [[99 TCN]], tướng quân [[Lý Quảng Lợi]] được lệnh đem 300000 quân lên phía bắc, giao chiến với Hữu hiền vương của Hung Nô ở Kỳ Liên Sơn. Một tướng khác là Lý Lăng đem quân bộ cùng năm nghìn người thiện xạ qua phía Bắc Cư Duyên chừng hơn nghìn dặm.
 
5000 quân của Lăng bị 80000 quân [[Hung Nô]] bao vây. Trước tình thế tuyệt vọng, tên bắn đã hết, lính chết quá nửa, nhưng giết hại quân Hung Nô cũng hơn vạn người, sau đó Lý Lăng vừa rút lui vừa đánh tám ngày liền. Nhưng trên đường về thì lại bị quân Hung Nô chặn đứt lối đường. Quân Lăng thiếu ăn mà cứu binh không tới. [[Lý Lăng]] bất đắc dĩ phải đầy hàng Hung Nô. Hán Vũ Đế nghe tin, giết mẹ và vợ con Lăng<ref>{{chú thích web|author=Tư Mã Thiên|title=Sử kí, quyển 109: Lý Tướng quân liệt truyện|url=http://zh.wikisource.org/wiki/%E5%8F%B2%E8%A8%98/%E5%8D%B7109}}</ref>. Quan thái sử [[Tư Mã Thiên]] ra sức can ngăn nên bị bỏ ngục và bị cung hình (thiến)<ref>{{chú thích web|author=Ban Cố|title=Hán thư, quyển 62: Tư Mã Thiên truyện|url=http://zh.wikisource.org/wiki/%E6%BC%A2%E6%9B%B8/%E5%8D%B7055}}</ref>.
 
===== Giảng hòa, tái lập hòa bình =====
{{chính|Dạ Lang}}
 
Ở phía tây nam nhà Hán thời đó có tồn tại một quốc gia tên gọi là Dạ Lang, chiếm một phần tỉnh Quảng Tây và phần lớn [[Quý Châu|tỉnh Quý Châu]] hiện nay. Nước Dạ Lang giáp quận [[Tứ Xuyên|Ba Thục]] và một mặt thì giáp [[hồ Động Đình]], về phía tây giáp [[Điền quốc|nước Điền]] của [[người Lô Lô]] miền Tây tỉnh Vân Nam bấy giờ, phía đông hồ Vân Nam, từng phồn thịnh hàng trăm năm trên cao nguyên Quý Châu. Theo Sử kí, trong các bộ tộc Tây Nam, Dạ Lang có thế lực hùng mạnh nhất, có 100 nghìn lực lượng tinh nhuệ, tàu bè của người Dạ Lang đi lại trên mặt sông, quanh cảnh hết sức tấp nập<ref>{{chú thích web|author=Tư Mã Thiên|title=Sử kí, quyển 116: Tây Nam Di liệt truyện|url=http://zh.wikisource.org/wiki/%E5%8F%B2%E8%A8%98/%E5%8D%B7116}}</ref>. Lúc đó Đại Hán thống trị phần lớn khu vực Trung Nguyên, Dạ Lang nằm trong miền núi xa xôi hẻo lánh.
 
Hán Vũ Đế muốn chinh phục vùng Dạ Lang để mở rộng lãnh thổ. Năm [[136 TCN]] ông cử [[Đường Mông]] làm Lang trung tướng dẫn 1000 binh sĩ và mấy vạn dân đem theo lương thực và công cụ sản xuất xuất phát từ Ba quận vượt qua Phù Quan<ref>Nay thuộc Hợp Giang, Tứ Xuyên, Trung Quốc</ref> đến Dạ Lang. [[Đường Mông]] ban tặng của cải để vua Dạ Lang và phô trương uy thế khiến Dạ Lang khiếp sợ, cho phép Đường Mông đặt cơ quan quản lý ở đó và cử con trai Dạ Lang hầu làm Lệnh (tương đương huyện lệnh).
 
Năm [[130 TCN]] Hán Vũ Đế ra lệnh đặt thành lập quận ở Dạ Lang và chọn Bậc đạo tây nam <ref>thành phố Nghi tân, Tứ xuyên</ref> làm quận lỵ rồi phát động quân sĩ 2 quận Ba Thục tiến hành việc mở đường từ Bậc đạo thông đến sông Tường Kha. Người đất Thục là [[Tư Mã Tương Như]] lại dâng thư yêu cầu đặt quận huyện tại Cùng <ref>Nay thuộc Tây Xương, Tứ Xuyên</ref>, Trách <ref>Huyện Diêm Nguyên, Tứ Xuyên ngày nay</ref> thuộc Tây Di. Tư Mã Tương Như được Vũ đế cử làm Trung lang tướng. Tư Mã Tương Như tuyên truyền với các thủ lĩnh dân tộc thiểu số tại địa phương được họ đồng ý cho [[nhà Hán]] đặt tại khu vực đó mười mấy huyện và 1 đô úy trực thuộc Thục quận.
 
Về sau, Hán Vũ Đế còn cho 8 hiệu úy chỉ huy các tội nhân tấn công Thả Lan <ref>phía tây nam huyện Hoàng Bình, Quý Châu</ref> giết chết mấy vạn người, đặt tại khu vực Nam Di này quận Tường Kha. Cuối cùng năm [[111 TCN]], Dạ Lang chính thức quy phục nhà Hán, Hán Vũ Đế lập ra quận Kiện Vi trên đất Dạ Lang cũ.
==== Xâm lược Cổ Triều Tiên ====
 
Dưới thời nhà Chu và nhà Hán, ở bán đảo Triều Tiên đã thành lập một quốc gia riêng, gọi là [[Vệ Mãn Triều Tiên|Vệ Thị Triều Tiên]]. Dưới thời trị vì của mình, Hán Vũ Đế cũng có ý định mở rộng lãnh thổ tới miền đất này. Năm [[109 TCN]], ông cử quân đánh Vệ Thị Triều Tiên và tiêu diệt được quốc gia này vào năm 108 TCN. Tại bán đảo Triều Tiên, nhà Hán cho thành lập bốn quận là Nhạc Lãng, Chân Phiên, Lâm Đồn và Huyền Thố.
 
== Hậu cung và những năm cuối đời ==
Người dùng vô danh