Khác biệt giữa các bản “Nguyễn Chấn Á”

không có tóm lược sửa đổi
{{Tiểu sử quân nhân
{{chú thích trong bài}}
| hình=
'''Nguyễn Chấn Á''' (1922-?), là người Việt gốc Hoa. Gia tộc đã 2 đời định cư ở [[Chợ Lớn]]{{fact}}. Ông nguyên là Thiếu tướng của Quân đội Trung Hoa Dân quốc ([[Đài Loan]]){{fact}}. Trước Thế chiến 2 ông gia nhập Quân đội Pháp. Khi quân đội Pháp ở Việt Nam đầu hàng Nhật, ông theo một đạo quân Pháp di chuyển sang [[Trung Hoa Lục địa]] và bản thân đã đầu quân cho Quân đội Quốc dân đảng do Thống chế [[Tưởng Giới Thạch]] lãnh đạo và làm Tổng chỉ huy{{fact}}. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, năm 1946 Pháp trở lại Việt Nam, ông ở lại hàng ngũ của Quân đội Quốc dân đảng (sau là Quân đội Trung Hoa Dân quốc){{fact}}. Năm 1960, ông trở lại Việt Nam, xin gia nhập trở lại Quân đội Việt Nam Cộng hòa, được giữ nguyên cấp [[Thiếu tướng]] và phục vụ Quân lực Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4 năm 1975.
| tên= Nguyễn Chấn Á
| ngày sinh= 1922
| ngày mất= ?
| nơi sinh= Chợ Lớn, VN
| nơi mất= ?
| thuộc= Quân đội Trung hoa Quốc gia<br/>[[Hình:GOFVNflag.jpg|22px]] [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]]
| cấp bậc= [[Hình:US-O8 insignia.svg|23px]] [[Thiếu tướng]]
| đơn vị= Tổng cục Chiến tranh Chính trị
}}
'''Nguyễn Chấn Á''' (1922-?), là người Việt gốc Hoa. Gia tộc đã 2 mấy đời định cư ở [[Thành phố Hồ Chí Minh|Chợ Lớn]]{{fact}}. Ông nguyên mang quân hàm Thiếu tướng của Quân đội Trung Hoa DânQuốc quốcgia ([[Đài Loan]]){{fact}}. Trước Thế chiến 2 ông gia nhập Quân đội Pháp. Khi quân đội Pháp ở Việt Nam đầu hàng Nhật, ông theo một đạo quân Pháp di chuyển sang [[Trung Hoa Lục địa]] và bản thân đã đầu quân cho Quân đội Quốc dân đảng do Thống chế [[Tưởng Giới Thạch]] lãnh đạo và làm Tổng chỉ huy{{fact}}. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, năm 1946 Pháp trở lại Việt Nam, ông ở lại hàng ngũ của Quân đội Quốc dân đảng (sau là Quân đội Trung Hoa DânQuốc quốcgia){{fact}}. Năm 1960, ông trở lại Việt Nam, xin gia nhập trở lại Quân đội Việt Nam Cộng hòa, được giữ nguyên cấp [[Thiếu tướng]] và phục vụ Quân lực Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4 năm 1975.
==Tiểu sử & binh nghiệp==
Ông sinh năm 1922 tại Chợ Lớn trong một gia đình người Việt gốc Hoa. Tốt nghiệp trung học chương trình Pháp.
 
Năm 1942, ông gia nhập Quân đội Pháp, được đào tạo ở trường sĩ quan Quân đội Pháp. Ra trường mang cấp bậc [[Chuẩn úy]] và phục vụ Quân đội Pháp. Qua năm 1943, ông lên cấp [[Thiếu úy]]. Đến năm 1945, ông được thắngthăng cấp [[Trung úy]].
==Quân đội Quốc dân đảng==
Từ năm 1945 đến năm 1949, ông phục vụ Quân đội Quốc dân Đảng tại Trung hoa{{fact}}. Từ năm 1949 đến năm 1960, ông phục vụ Quân đội Trung Hoa DânQuốc quốcgia tại Đài Loan. Trong thời gian này ông lần lượt được thăng cấp từ Trung úy lên [[Đại úy]], [[Thiếu tá]], rồi [[Trung tá]], [[Đại tá]] và cuối cùng là [[Thiếu tướng]].{{fact}}
==Quân đội Việt Nam Cộng hòa==
Năm 1960, ông trở về Việt Nam định cư và xin gia nhập vào Quân đội Việt Nam Cộng hòa{{fact}}. Ông được giữ nguyên cấp [[Thiếu Tướng]] và được đề cử vào phục vụ trong Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam Cộng hòa.{{fact}}
 
Đầu năm 1966, ông được cử làm Giám đốc Cục An Ninh Quân đội thay thế Đại tá [[Nguyễn Ngọc Loan]]. Đến cuối năm 1969, ông nhận lệnh bàn giao cụcCục An ninh Quân đội lại cho Đại tá [[Vũ Đức Nhuận]]. Sau đó, ông được chuyển về phục vụ trong tổngTổng cục Chiến tranh Chính trị.
 
Đầu năm 1972, ông được cử giữ chức vụ Chỉ huy trưởng binhBinh chủng Quân cảnh thay thế Đại tá Nguyễn Ngọc Thiệt.
 
Cuối năm 1973, ông nhận lệnh bàn giao chức Chỉ huy trưởng Quân cảnh lại cho Đại tá Nguyễn Hữu Phước. Sang đầu năm 1974, ông được cử giữ chức Cố vấn Tổng cục Chiến tranh Chính trị.
==1975==
Sau ngày 30 tháng 4, ông bị Chính quyền mới bắt đi tù cải tạo từ Nam ra Bắc, đến năm 1988 ông mới được trả tự do.
*:''(Không rõ nơi hiện nay ông và gia đình đang định cư).
 
==Tham khảo==
*Chân dung tướng lĩnh Sài Gòn.
*Hồi ký tướng tá Sài Gòn.
*''Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa''.
 
{{thời gian sống|1922|?}}
 
[[Thể loại:Người Việt gốc Hoa]]
[[Thể loại:Thiếu tướng Việt Nam Cộng hòa]]
[[Thể loại:Người Chợ Lớn]]
1.467

lần sửa đổi