Khác biệt giữa các bản “Đỗ Mậu (Việt Nam Cộng hòa)”

không có tóm lược sửa đổi
(Tập tin DoMau1.jpg đã bị bỏ ra khỏi bài viết vì nó đã bị xóa ở Commons bởi Jameslwoodward vì lý do: Commons:Deletion requests/Files uploaded by Hoàng Đình Thảo - Using [[:c:CO)
{{otheruses|Đỗ Mậu}}
{{Tiểu sử quân nhân
|chú thích hình=
| tên= Đỗ Mậu
|ngày sinh= {{ngày sinh|1917|1|1}}
| ngày mấtsinh= {{ngày mất và tuổi|2002|4|11|1-7-1917|1|1}}
| ngày mất= 11-4-2002 (85 tuổi)
|hình= [[Tập|170px]]
| nơi sinh= [[Quảng Bình]], [[Việt Nam]]VN
|chú thích hình=
| nơi mất= Hoa Kỳ
|quốc tịch=
|phục vụthuộc= [[Tập tin:Flag of the South VietnamVietnamese Army.svgjpg|22px]] [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]]
|biệt danh=
| năm phục vụ= 1936–1965
|nơi sinh= [[Quảng Bình]], [[Việt Nam]]
| cấp bậc= [[Thiếu tướng]]
|nơi mất=
| đơn vị= Nha An ninh Quân đội
|phục vụ= [[Tập tin:Flag of South Vietnam.svg|22px]] [[Việt Nam Cộng hòa]]
|thuộc chỉ huy= [[TậpQuân tin:Flagđội ofPháp<br/>Quân theđội SouthLiên Vietnamesehiệp Army.jpg|22px]]Pháp & [[Quân đội Quốc gia<br/>Quân lực Việt Nam]] Cộng hòa
| tham chiến= [[Chiến tranh Việt Nam]]
|năm phục vụ= 1936–1965
| công việc khác= Tổng trưởng Bộ thông tin<br/>Đệ tam Phó Thủ tướng
|cấp bậc= [[Thiếu tướng]]
|đơn vị=
|chỉ huy=
|tham chiến= [[Chiến tranh Việt Nam]]
|khen thưởng=
|công việc khác= Tổng trưởng Bộ thông tin
}}
 
'''Đỗ Mậu''' (1917-2002), còn có bút hiệu là '''Hoành Linh Đỗ Mậu''', là một cựu tướng lĩnh và chính khách [[Việt Nam Cộng hòa]]. Xuất thân từ Quân đội thuộc địa Pháp. Ông là một trong những nhân vật đóng vai trò quan trọng trong cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 và chính trường Việt Nam Cộng hòa từ năm 1963- đến 1965.
==Tiểu sử & Binh nghiệp==
==Thân thế ==
Ông sinh ngày [[1 tháng 7]] năm 1917 tại làng Thổ Ngọa, phủ Quảng Trạch, tỉnh [[Quảng Bình]]. trong một gia đình nhà Nho nghèo. Trong hồi ký của mình, ông cho biết ông nội mình là một nhà Nho, bỏ việc đèn sách để trở thành tướng lĩnh trong phong trào [[Cần Vương]] dưới quyền lãnh đạo của [[Lê Trực]], về sau bị quân Pháp giết chết.<ref name="ReferenceA">Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương I: Quảng Bình - Quê hương định mệnh.</ref> Tuy nhiên, một tài liệu khác dẫn lời một nhân chứng cho rằng ông xuất thân trong gia đình địa chủ.<ref name="Nguyễn Văn Minh 2003">Nguyễn Văn Minh, ''Dòng họ Ngô-Đình: Ước mơ chưa đạt''. Garden Grove, CA: Hoàng Nguyên Xuất-bản, 2003. Chương 3.7: Cuộc đảo chánh 1.11.1963</ref>
 
Cũng theo hồi ký của ông, mẹ ông mất sớm khi ông mới 4 tuổi. Tuy nhiên, do ảnh hưởng truyền thống gia đình, ông vẫn được cho đi học hết bậc tiểu học ờ quê nhà, sau đó được người cô họ giúp đỡ để học tiếp trung học ở Huế. Tuy nhiên, ông phải bỏ dở việc học khi sắp bước vào năm học thứ 4 do hoàn cảnh gia đình.<ref name="ReferenceA"/> Do việc học hành dở dang này, về sau ông thường tự nhận mình là "kẻ thất học quê mùa".<ref name="ReferenceB">Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương XIV: Kỳ thị tôn giáo.</ref>
 
==Bước đầu binh nghiệp trong quânQuân đội thuộc địa==
Ông trở về [[Đồng Hới]], xin được một chân giáo viên sơ học làng để sinh kế. Sau khi dạy học 1 năm, giữa năm 1936, ông nhập ngũ vào đơn vị [[lính khố xanh]] (''(Garde Indigène)'') tại cơ Bảo an [[Hà Tĩnh]]. Trong hồi ký của mình, ông giải thích lý do quan trọng nhất là để có tiền nuôi thân lại vừa có tiền giúp đỡ cha già.<ref name="ReferenceA"/>
 
Do có trình độ trung học, ông được bố trí công việc nhẹ nhàng ở văn phòng. Đến đầu năm 1939, ông được phục vụ tại Tòa Khâm sứ Pháp ở [[Huế]]. Đầu năm 1942, ông được cử đi học khóa Hạ sĩ quan tại Trung tâm Huấn luyện Hạ sĩ quan An Cựu, Huế. Tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy, ông được giữ ở lại trường để làm huấn luyện viên.
 
==Hoạt động chống Pháp==
Mãi đến khi [[Chiến dịch Đông Dương (1945)|Nhật đảo chính Pháp]] ngày [[9 tháng 3]] năm 1945 ông mới được phóng thích. Ông trở về quê cũ thăm gia đình trở lại Huế, sinh hoạt lại với các đồng chí cũ trong Đại Việt Phục hưng Hội dưới sự điều hành của ông Ngô Đình Khôi. Sau đó, ông được cử vào [[Sài Gòn]] đón ông Diệm vào cư trú ở [[Đà Lạt]] một thời gian dưới sự bảo trợ của ông [[Trần Văn Lý]], cựu Tuần vũ Hà Tĩnh, một thành viên cũ trong Đại Việt Phục hưng Hội, bấy giờ là Tổng đốc Lâm-Đồng-Bình-Ninh trong [[chính phủ Trần Trọng Kim]]. Sau đó, cũng nhờ sự bảo lãnh của ông Lý, ông được bổ nhiệm làm Trưởng ty Võ phòng kiêm tư lệnh Bảo an dưới quyền Tổng đốc Lâm-Đồng-Bình-Ninh.<ref name="ReferenceC"/>
 
Tháng 8 năm 1945, [[Việt Minh]] giành được chính quyền. Ông bị bắt giữ một thời gian ngắn rồi được thả do từng hoạt động chống Pháp. Khi quân Pháp nổ súng tái chiếm Đông Dương, chính quyền Việt Minh tại Đà Lạt tổ chức ra 2 tiểuTiểu đoàn [[Vệ Quốc Đoàn|Vệ Quốc Quân]] để chống quân Pháp. Ông được giao chỉ huy một tiểuTiểu đoàn. Một tiểuTiểu đoàn kia được giao cho Nguyễn Lương, người [[Quảng Ngãi]], nguyên là thư ký Toà sứ Đà Lạt. Một sĩ quan trẻ gốc hoàng tộc là [[Tôn Thất Đính]] cũng phục vụ cùng với ông trong lực lượng Vệ Quốc Quân Đà Lạt với vai trò chính trị viên trungTrung đội, người về sau có vai trò quan trọng trong sự nghiệp của ông. Trong hồi ký của mình ông cũng mô tả những ấn tượng của mình khi lần đầu được tiếp xúc với nhà cách mạng trẻ [[Võ Nguyên Giáp]] khi ông Giáp dẫn đầu một phái đoàn quân chính lên Đà Lạt để tham quan tình hình và cho những chỉ thị cần thiết nhằm chuẩn bị chống lại cuộc tấn công của quân Pháp lan rộng đến vùng Cao Nguyên Trung phần.<ref>Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương III: Thăng trầm trong cuộc chiến Việt Pháp.</ref>
 
Năm 1946, ông chuyển sang phục Việt binh đoàn Trung Việt, được thăng hàm [[Thiếu úy]].
 
Tuy nhiên, với trang bị kém và thiếu huấn luyện cũng như kinh nghiệm tác chiến, đơn vị ông không thể ngăn cản sức tấn công của liên quân Anh-Pháp-Nhật, dần phải triệt thoái về [[Ninh Thuận]]. Một thời gian sau, ông bỏ ngũ và tìm cách trở về quê nhà.<ref>Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương III: Thăng trầm trong cuộc chiến Việt Pháp.</ref>
Tại Đồng Hới, ông được một đồng chí cũ là ông Hoàng Văn Toản giới thiệu ra Huế gặp ông [[Trần Văn Lý]], thành viên cũ của Đại Việt Phục hưng Hội, bấy giờ là Chủ tịch [[Hội đồng chấp chánh lâm thời Trung phần]]. Ông được ông Lý cử làm phụ trách một lớp huấn luỵện quân sự và chính trị nhằm xây dựng một đơn vị quân chính tương lai trong lực lượng [[Bảo vệ Quân]]. Ngoài ra, ông còn cùng với một số đồng chí ra tuần báo Tiếng Gọi, với lập trường chống Cộng, chống thực dân đế quốc, ủng hộ đường lối và cá nhân ông Ngô Đình Diệm. Do những hoạt động này, ông 2 lần bị mật thám Pháp bắt giam nhưng nhờ có sự can thiệp của ông Lý nên đều được trả tự do.<ref>Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương III: Thăng trầm trong cuộc chiến Việt Pháp.</ref>
 
==Từ Việt binh đoàn đến- Quân đội Quốc gia==
Tháng 5 năm 1948, [[Chính phủ Trung ương lâm thời Việt Nam]] do tướng [[Nguyễn Văn Xuân]] làm Thủ tướng được thành lập. Ông [[Phan Văn Giáo]] được cử làm Quốc vụ khanh Trung Kỳ và ngay lập tức tiến hành việc tổ chức và xây dựng lực lượng quân đội người bản xứ tại miền Trung lấy tên là [[Việt binh đoàn]], với Thiếu tá [[Nguyễn Ngọc Lễ]] làm Tư lệnh. Ông gia nhập lực lượng Việt binh đoàn, được thăng cấp [[Trung úy]] và được cử làm Trưởng phòng 3 [[Việt binh đoàn]] ở Huế, đặc trách tổ chức hành quân, huấn luyện kiêm Chủ nhiệm tuần báo Tiếng Kèn. Cuối năm đó, ông được thăng cấp [[Đại úy]], giữ chức Tham mưu phó Việt binh đoàn.
 
Tháng 2 năm 1951, ông được cử làm Chỉ huy trưởng Việt binh đoàn Quảng Bình, đồn trú tại tỉnh lỵ [[Đồng Hới]]. Thời gian này ông đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với nhà sư [[Thích Trí Quang]], người về sau trở thành một trong những lãnh tụ Phật giáo năm 1963, đã làm "rung động nước Mỹ"<ref>Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương III: Thăng trầm trong cuộc chiến Việt Pháp.</ref> Không lâu sau, ông được cử đi học lớp chỉ huy chiến thuật tại Trung tâm Huấn luyện chiến thuật Hà Nội. Khi ông Trần Văn Lý được bổ nhiệm làm Thủ hiến Trung phần, ông được cử làm Tham mưu trưởng lực lượng Việt binh đoàn.<ref>Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương III: Thăng trầm trong cuộc chiến Việt Pháp.</ref> Khi lực lượng Việt binh đoàn được sát nhập vào [[Quân đội Quốc gia Việt Nam]],. thángTháng 8 năm 1952, ông được cử theo học lớp Tiểu đoàn trưởng và Liên đoàn trưởng tại Trung tâm chiến thuật Hà Nội. Một Trung úy trẻ học cùng lớp với ông tên là [[Nguyễn Văn Thiệu]]. Sau khi mãn khoá, ông cùng với Trung úy Thiệu và một Trung úy trẻ khác tên [[Cao Văn Viên]] cùng được cử về công tác tại Khu chiến Hưng Yên. Ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng, Trung úy Viên làm trưởng phòng Nhì và Trung úy Thiệu làm trưởng phòng Ba. Cả 3 người được cấp phát chung một căn phòng nhỏ để ở. Hồi ký của ông kể: ''"Buổi tối, lúc trở lại phòng để chuẩn bị đi ngủ, Thiệu và tôi thường phân tích và luận bàn về tình hình chính trị và chiến sự đến khuya. Riêng Viên vốn tính ít nói nên chỉ thỉnh thoảng góp ý kiến mà thôi."''<ref>Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương IV: Những ngày cuối cùng của Thực dân Pháp.</ref>
 
Giữa năm 1953, ông bị thuyên chuyển về phục vụ tại Liên đoàn Lưu động số 3 do Thiếu tá [[Phạm Văn Đổng|Phạm Văn Đỗng]] làm Chỉ huy trưởng, đồn trú tại [[Nam Định]]. Thời gian ở đây, ông thường viết bài hay sáng tác thơ gởi về [[Sài Gòn]], nhờ 2 đồng chí cũ là cho ông [[Ngô Đình Nhu]] hoặc ông Đỗ La Lam đăng vào báo Xã Hội. Theo hồi ký của ông, chính ông Nhu đã vận động với [[Đại tá]] [[Trần Văn Đôn]] (Chỉ huy An ninh Quân đội) và Đại tá [[Trần Văn Minh]] (Lục quân)|Trần, Văn Minh]] (Tham mưu trưởng của tướng [[Nguyễn Văn Hinh]]) để ông được thuyên chuyển về [[Nha Trang]] với tư cách là Đại diện Đặc biệt của Bộ Tư lệnh Đệ Nhị Quân khu, dưới quyền Trung tá Nguyễn Ngọc Lễ.<ref>Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương IV: Những ngày cuối cùng của Thực dân Pháp.</ref> Cuối năm đó, ông được thăng cấp [[Thiếu tá]] và được cử giữ chức Chỉ huy trưởng Khu chiến [[Phan Rang]]. Đầu năm 1954, ông được thuyên chuyển ra Hà Nội học lớp Trung đoàn trưởng. Tại đây, ông làm quen với 2 người bạn đồng khóa là Thiếu tá [[Phan Đình Thứ|Lam Sơn]] và Đại úy [[Nguyễn Chánh Thi]]. Người thay thế ông tại Phan Rang chính là Thiếu tá [[Nguyễn Văn Thiệu]].<ref>Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương IV: Những ngày cuối cùng của Thực dân Pháp.</ref>
 
==Vị Ủy viên Quân ủy Trung ương Cần Lao==
Ngày [[16 tháng 6]] năm 1954, Quốc trưởng [[Bảo Đại]] ký sắc lệnh 38/QT bổ nhiệm cựu thượng thư Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng Quốc gia Việt Nam. Ngày [[20 tháng 7]] năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết, phân chia 2 vùng tập kết. Ngay trong cuối tháng 7, dù chưa mãn khoá, ông cùng với các bạn đồng khoá được di chuyển xuống [[Hải Phòng]] sau đó lên tàu di tản vào Sài Gòn để học tiếp cho đến khi mãn khoá vào tháng 9. Sau đó ông được bổthăng nhiệmcấp về công tác tại Phân khu Duyên Hải, dười quyền Tư lệnh Đại[[Thiếu]] Nguyễngiữ Ngọcchức Lễ.Chỉ Từnghuy hoạttrưởng độngKhu chốngchiến PhápPhan trongRang tổTháng chức12 [[Đạicùng Việtnăm, Phụcbàn hưnggiao Hội]],Khu ôngchiến nhiệtPhan thànhRang ủnglại hộcho ThủThiếu tướng [[NgôNguyễn ĐìnhVăn Diệm]]Thiệu. nắmQua quyềnđầu lãnhnăm đạo1955, quốcông giađược thaythăng cho Quốc trưởnglên [[BảoTrung Đại]]. Do nhữngđược vậnbổ độngnhiệm ủnglàm hộphó Thủ tướnglệnh Diệmphó củaPhân ôngkhu trongDuyên các sĩ quanHải, ôngdưới quyền Tư Đại tá Lễ bị tướng Nguyễn VănNgọc Hinh,Lễ Tổnglàm tham mưu trưởng Quốc gia Việt Nam ra lệnh cách chức, phải trốn chạy vào trú ẩn trong phủ Thủ tướng.<ref>Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương IV: Những ngày cuối cùng của Thực dân Pháp.</ref>
 
Từng hoạt động chống Pháp trong tổ chức [[Đại Việt Phục hưng Hội]], ông nhiệt thành ủng hộ Thủ tướng [[Ngô Đình Diệm]] nắm quyền lãnh đạo quốc gia thay cho Quốc trưởng [[Bảo Đại]]. Do những vận động ủng hộ Thủ tướng Diệm của ông trong các sĩ quan, ông và Đại tá Lễ bị tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng tham mưu trưởng Quốc gia Việt Nam ra lệnh cách chức, phải trốn chạy vào trú ẩn trong phủ Thủ tướng.<ref>Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương IV: Những ngày cuối cùng của Thực dân Pháp.</ref>. Tuy nhiên không lâu sau đó, dưới áp lực của người Mỹ, tướng Hinh bị Quốc trưởng Bảo Đại triệu hồi sang Pháp.
Tuy nhiên không lâu sau đó, dưới áp lực của người Mỹ, tướng Hinh bị Quốc trưởng Bảo Đại triệu hồi sang Pháp. Để tưởng thưởng công lao ủng hộ Thủ tướng Diệm, ông được thăng [[Trung tá]], được bổ nhiệm làm Tư lệnh phó Phân khu Duyên Hải.<ref>Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương V: Góp công xây dựng nền móng chế độ.</ref> Tại đây, ông được xem là đã áp dụng một đường lối quá cứng rắn đối với những đảng phái, lực lượng, chống lại Thủ tướng Diệm lúc bấy giờ và là một trong những người ủng hộ Thủ tướng Diệm tích cực nhất trong thời kỳ ấy.<ref name="Nguyễn Văn Minh 2003"/> Giữa năm 1955, ông gia nhập [[đảng Cần Lao]].<ref>Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương VIII: Chủ nghĩa Nhân vị và đảng Cần Lao.</ref> Khi [[Quân ủy Trung ương]] [[đảng Cần Lao]] được thành lập tại [[Nha Trang]], ông được cử làm Ủy viên Trung ương. Không lâu sau, ông được cử làm Tư lệnh Phân khu Duyên hải.<ref>Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương V: Góp công xây dựng nền móng chế độ.</ref>
 
Giữa năm 1955, ông gia nhập [[đảng Cần Lao]] và là Ủy viên Quân ủy Trung ương đảng.
 
==Bị thất sủng ==
Mặc dù vậy, những mâu thuẫn đầu tiên giữa ông và lãnh tụ của mình bắt đầu xuất hiện. Tháng 7 năm 1956, ông được lệnh bàn giao Phân khu Duyên Hải lại cho Trung tá Nguyễn Văn Vĩnh và thuyên chuyển về Sài Gòn đợi lệnh mới. Tuy nhiên, đến mãi tháng 10 năm 1956, ông mới được cử làm Tùy viên Quân sự cạnh Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Pháp. Ông rời Sài Gòn ngày [[25 tháng 10]] năm 1956, chỉ 1 ngày trước lễ thành lập chính thể Việt Nam Cộng hòa.<ref>Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương VII: Chế độ Gia đình trị.</ref> Và không như nhiều sĩ quan [[Quân đội Quốc gia Việt Nam]] ở lại phục vụ cho [[Quân đội Việt Nam Cộng hòa]] được thăng một cấp, ông vẫn giữ nguyên cấp bậc Trung tá.
 
Tại Pháp, do quá khứ chống Pháp, ông không được chính phủ Pháp công nhận tư cách Tùy viên Quân sự. Tình huống trớ trêu này kéo dài mãi đến giữa tháng 10 năm 1957, ông mới được triệu hồi về nước. Đầu năm 1958, ông được bổ nhiệm vào giữ chức Giám đốc Nha An ninh Quân đội<ref>Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương VII: Chế độ Gia đình trị.</ref> Qua năm 1959, ông được thăng cấp [[Đại tá]] nhiệm chức. Giữ vai trò chỉ huy ngành An ninh Quân đội, với nhiệm vụ theo dõi tinh thần và hoạt động các sĩ quan quân đội, ông thường xuyên gặp phải sự dè dặt của các tướng lãnh, nhất là khi ông từng được biết như là một cán bộ tín cẩn của Tổng thống Diệm, thường xuyên làm việc trực tiếp với Bộ trưởng Quốc phòng, thậm chí, trình báo trực tiếp với Tổng thống.<ref name="ReferenceB"/> Tuy nhiên, trong hồi ký của mình, ông nhiều lần đề cập vị trí tế nhị của mình, khi thường xuyên bị cố vấn Ngô Đình Nhu lợi dụng<ref>Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương XV: Biến cố Phật giaáo 1963.</ref> hoặc bị các bộ phận khác qua mặt, điển hình là vụ [[Đoàn công tác đặc biệt miền Trung]] bắt giữ một thuộc cấp thân tín dưới quyền ông là Chuẩn úy [[Lê Hữu Thúy]],<ref name="Mậu, 1962">Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi''. Chương XII: 1961-1962, hai năm khốn cùng</ref> người về sau ông mới biết đấy là một tình báo viên cao cấp của đối phương.
Hạ tuần tháng 3 năm 1965, ông bị buộc phải giải ngũ với lý do đã phục vụ quân đội trên 20 năm.
 
==Hoạt động chính trị và Tâm sự tướng lưu vong==
Sau 2 năm an dưỡng không quan tâm đến chính trường, năm 1967, ông nhận lời ông [[Nguyễn Xuân Chữ]] tham gia và được bầu là Đệ nhất Phó chủ tịch Lực lượng Dân tộc Việt, một tổ chức chính trị đối lập hoạt động trong chính trường Việt Nam Cộng hòa.<ref name="Mậu, 1962"/> Tuy nhiên, các động chính trị không để lại tác động đáng kể.
 
*{{chú thích sách|author=[[Truong Nhu Tang]]|title=Journal of a Vietcong|year=1986|location=London|publisher=Cape|isbn=0-224-02819-7}}
*{{chú thích sách|title=Encyclopedia of the Vietnam War: A Political, Social and Military History|first=Spencer C.|last=Tucker|year=2000|publisher=[[ABC-CLIO]]|isbn=1-57607-040-9|location=Santa Barbara, California}}
* Hoành Linh Đỗ Mậu, ''Việt Nam máu lửa quê hương tôi'', NXB Hương Quê, 1986, Nam California, Hoa Kỳ.
 
* "Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng Hòa". Trần Ngọc Thống & Hồ Đắc Huân 2011.
 
 
* Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011), ''Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
 
{{thời gian sống|1917|2002}}
 
[[Thể loại:Người Quảng Bình]]
[[Thể loại:Người Mỹ gốc Việt]]
[[Thể loại:Cựu binh Quân đội Thuộc địa Pháp]]
[[Thể loại:Thiếu tướng Việt Nam Cộng hòa]]
[[Thể loại:TínCựu đồbinh đạoQuân Phậtđội Thuộc địa Pháp]]
[[Thể loại:Người Quảng Bình]]
1.467

lần sửa đổi