Khác biệt giữa các bản “Lê Minh Đảo”

không có tóm lược sửa đổi
(Tập tin LeMinhDao.jpg đã bị bỏ ra khỏi bài viết vì nó đã bị xóa ở Commons bởi Jameslwoodward vì lý do: Commons:Deletion requests/Files uploaded by Hoàng Đình Thảo - Using [[:c)
{{Tiểu sử quân nhân|
| hình=
| tên= Lê Minh Đảo
|ngày sinh= {{ngày sinh và tuổi|1933|3|5}}
| ngày mấtsinh= 5-3-1933
| nơi sinh= [[Sài Gòn]], VN
|hình=[[Tập|170px]]
|nơi ngày mất=
|chú thích hình
| nơi mất=
|quốc tịch=
| thuộc= [[Tập tin:Flag of the South Vietnamese Army.jpg|22px]] [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]]
|biệt danh=
| năm phục vụ= 1955-1975
|nơi sinh= [[Sài Gòn]], [[Liên bang Đông Dương|Đông Dương thuộc Pháp]]
| cấp bậc= [[Tập tin:US-O8 insignia.svg|30px23px]] [[Thiếu tướng]]
|nơi mất=
|thuộc đơn vị= [[Tập tin:Flagđoàn of18 theBộ Southbinh Vietnamese Army.jpg|22px]] [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 18 bộ binh]]
| chỉ huy= Quân đội Quốc gia<br/>Quân lực Việt Nam Cộng hòa
|năm phục vụ= 1955-1975
| tham chiến= [[Trận Xuân Lộc]]<br/>[[Trận An Lộc]]
|cấp bậc= [[Tập tin:US-O8 insignia.svg|30px]] [[Thiếu tướng]]
| công việc khác= Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng
|đơn vị= [[Sư đoàn 18 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn Bộ binh 18]]
|chỉ huy=
|tham chiến= [[Trận Xuân Lộc]]<br>[[Trận An Lộc]]
|khen thưởng=
|công việc khác=
}}
 
'''Lê Minh Đảo''' (sinh [[1933]]), nguyênmộttướng cựulĩnh [[Thiếubộ tướngbinh của [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]]. Ông xuất thân từ trường Võ bị Quốc gia dưới thời kỳ [[Quốc gia Việt Nam]]. Ông được đánh giá là một trong những tướng lĩnh chỉ huy cấp đoàn xuất sắc nhất của [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]], từng được mệnh danh là "Người hùng Xuân Lộc", khi ôngchỉ huylệnh trưởngchiến củatrường [[PhòngTrận tuyếnXuân Lộc|Xuân Lộc]], phòng tuyến cuối cùng của chế độ [[Việt Nam Cộng hòa]] trước khi sụp đổ.
 
==ThânTiểu thếsử & bước đầu binhBinh nghiệp==
Ông sinh ngày [[5 tháng 3]] năm [[1933]] tại xã [[Bình Hòa]], tỉnh [[Gia Định]] ''(nay thuộc Tp Hồ Chí Minh)'' trong một gia đình đôngcha conlà công chức. Song thân là cụ Lê Hằng cầm và cụ Ngô Thị thao. Từ nhỏ, ông có tiếng học giỏi, từngông theođã học tại trường [[Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, Thành phố Hồ Chí Minh|Lycėe Pėtrus Ký]] [[Sài Gòn]]. Tốt nghiệp với văn bằng Tú tài toàn phần (Part II)
 
NămCuối tháng 9 năm 1953, ông tình nguyện nhập ngũ vào [['''Quân đội Quốc gia Việt Nam]].''', Domang số trìnhquân: độ53/125.441. Theo tàihọc 2,khóa ông10 đượcTrần cửbình theoTrọng học khóa 10tại Trườngtrường Võ bị Liên quân Đà Lạt ''(cònkhai gọigiảng ngày khóa1/10/1953, Trầnmãn Bìnhkhóa Trọngngày 1/6/1954)''. Ông tốtTốt nghiệp với cấp bậc [[Thiếu úy]]. tháng 6 năm 1954; doDo có thành tích học tập tốt (hạng 18/400), ông được giữ lại Trườngtrường để làm huấn luyện viên và cán bộ chỉTrung huyđội trưởng, hướng dẫn các khóa sinh của những khóa học12 kế tiếp.
 
==Quân đội Việt Nam Cộng hòa==
Sau khi chế độ Việt Nam Cộng hòa thành lập, ông ở lại phục vụ và được chọn du học lớp Huấn luyện viên tại [[Trường Võ bị Lục quân Fort Benning]], [[Georgia, Hoa Kỳ]]. Ông được xem là một học viên toàn diện, có thể tự lái trực thăng và làm hoa tiêu phụ bay đêm<ref>[http://sknc.qdnd.vn/sukiennhanchung/vi-vn/89/70/80/80/80/115192/Default.aspx Lê Minh Đảo và nỗi đau sau ngày thăng cấp]</ref>. Sau khi mãn khóa, ông về nước và được thăng [[Trung úy]] tháng 6 năm 1956, tiếp tục làm cán bộ và huấn luyện viên của Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt.
 
SauNăm 1955, khi chế độ Việt Nam Cộng hòa thành lập, ông được chuyến lạisang phục vụ và được chọn đi du học lớp Huấn luyện viên tại [[Trường Võ bị Lục quân Fort Benning]], [[Georgia, Hoa Kỳ]]. Ông được xem là một học viên toàn diện, có thể tự lái trực thăng và làm hoa tiêu phụ bay đêm<ref>[http://sknc.qdnd.vn/sukiennhanchung/vi-vn/89/70/80/80/80/115192/Default.aspx Lê Minh Đảo và nỗi đau sau ngày thăng cấp]</ref>. SauTháng 6 năm 1956, sau khi mãn khóa, ônghọc về nước, ông được thăng cấp [[Trung úy]] tháng 6 năm 1956, tiếp tục làm cán bộ và huấn luyện viên của Trườngtrường Võ bị Liên quân Đàcác Lạtkhoá 13, 14 và 15.
 
==Một sĩ quan trẻ triển vọng==
Đầu nămNăm 1959, Thiếu tướng [[Lê Văn Kim]] nhận chức Chỉ huy trưởng Trườngtrường Võ bị Liên quân Đà Lạt., Ôngđầu năm 1960 ông được chọn làm sĩ quan tùy viên củacho Chỉ huy trưởng. Vì vậy, năm 1961 khi tướng Lê Văn Kim được điều về Bộ Tổng tham mưu làm Phụ tá Tư lệnh hành quân đầu năm 1961, ông cũng được chuyển công tác theo. Năm 1962, ông được thăng cấp [[Đại úy]] và được cử đi du học lớp tác chiến chống du kích trong rừng già tại [[Malaysia]]. Sau khi về nước, ông phục vụ tại Khối Nghiên cứu của Bộ Tư lệnh Hành quân.
 
CuốiNgày 2 tháng 11 năm 1962, ông được thăng cấp [[Thiếu tá]] và được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng [[Long An]] thay thế Thiếu tá Nguyễn Văn Xinh. Khi [[Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1963|đảo chính 1963]] ông được tướng Lê Văn Kim, bấy giờ đã được thăng [[Trung tướng]], Tổng thư ký kiêm Ủy viên Ngoại giao của [[Hội đồng Quân nhân Cách mạng (Việt Nam, 1963)|Hội đồng Quân nhân Cách mạng]], triệu hồi về Sài Gòn để chuẩn bị nhân sự. Tuy nhiên, tướng [[Nguyễn Khánh]] sau đó không lâu đã thực hiện cuộc [[Cuộc chỉnh lý tại Việt Nam Cộng hòa 1964|chỉnh lý]] để loại bỏ ảnh hưởng của các tướng [[Trần Văn Đôn]], [[Tôn Thất Đính]], Lê Văn Kim và [[Mai Hữu Xuân]] và lên nắm quyền. Bị cho là thuộc cấp thân tín của tướng Lê Văn Kim, nên cuối năm 1964, ông phải bàn giao chức vụ tỉnhTỉnh trưởng lại cho Thiếu tá Nguyễn Văn Lộc và chuyển về công tác tạivề Phòng 3 (Tác chiến) của [[Quân đoàn IV (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn IV]].
 
==Tướng tinh chiếu rọi==
Mãi đến năm 1965, ông mới được bổ nhiệm vào chức vụ chỉ huy, bắt đầu sự thăng tiến trong binh nghiệp. Ban đầu là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 31, [[Sư đoàn 21 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 21 Bộ binh]], không lâu sau, ông được thăng làm Trung đoàn phó Trung đoàn 31. NămQua năm 1966, ông được điều trở về Bộ Tư lệnh Quân đoàn IV, giữ chức Giám đốc Trung tâm Hành quân.
 
Năm 1967, ông được tân tổngTổng thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng [[Chương Thiện]] thay thế Trung tá [[Chương Dzềnh Quay]]. Một năm sau, ông được thăng cấp [[Trung tá]] tại nhiệm. Tháng 3 năm 1969, chuyển sang làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng [[Định Tường]]. Năm 1970, ông được đặc cách thăng cấp [[Đại tá]] tại mặt trận. Thời gian này, ông thường xuyên tiếp xúc và có mối quan hệ thân tình với [[John Paul Vann]], cựu Trung tá [[Lục quân Mỹ]], Cố vấn cao cấp của [[Chương trình Bình định và Phát triển nông thôn]] (''Civil Operations and Rural Development Support'' - '''CORDS''') tại [[Quân đoàn IV (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn IV]]. Ông đã gây được ấn tượng tốt với John Paul Vann, một yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến sự nghiệp của ông sau này.
 
==Sư đoàn 18: Từ An Lộc đến Xuân Lộc==
Trong [[Chiến dịch Xuân - Hè 1972|chiến cuộc Xuân - Hè 1972]], [[John Paul Vann]], bấy giờ cố vấn trưởng Hoa Kỳ tại [[Quân đoàn II (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn II]], đã đề nghị [[Trung tướng]] [[Ngô Dzu]], Tư lệnh Quân đoàn II, bổ nhiệm Đại tá [[Lý Tòng Bá]] và Đại tá Lê Minh Đảo vào các vụ Tư lệnh Sư đoàn tại Quân đoàn II, bởi viên cố vấn này cho rằng đấy chính là những sĩ quan trẻ, năng động và có kinh nghiệm chiến trường. Không lâu sau đó, Đại tá Lý Tòng Bá nhận chức vụ Tư lệnh [[Sư đoàn 23 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 23 Bộ binh]] và đến tháng 4 năm 1972, Đại tá Lê Minh Đảo đã được Tổng thống [[Nguyễn Văn Thiệu]] bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh [[Sư đoàn 18 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 18 Bộ binh]] kiêm Tư lệnh Biệt khu 31 Chiến thuật sau khi bàn giao Tiểu khu Định Tường lại cho Đại tá Chung Văn Bông.
 
NhậnTháng chức6 năm 1972, không lâu, thángsau 6khi nămnhận 1972chức Tư lệnh Sư đoàn 18, ông được lệnh đưa Sư đoàn 18 vào [[An Lộc]] thay thế [[Sư đoàn 5 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 5 Bộ binh]] vốn đã bị thiệt hại nặng nề qua những đợt tấn công trong [[trậnTrận An Lộc]] trước đó. Với sự tăng phái của Liên đoàn 5 Biệt động quân, Sư đoàn 18 trở thành đơn vị phòng thủ chính tại phía Bắc Sài Gòn. Ông nhiều lần chỉ huy Sư đoàn, liên tục hành quân giải tỏa, kết quả đã khai thông trục đường 13, làm giảm áp lực bao vây của đối phương vây quanh An Lộc. Do chiến tích này, nên ngày [[1 tháng 11]] cùng năm 1972, ông được vinh thăng cấphàm [[Chuẩn tướng]] khi mới 39 tuổi.
: Thời điểm ông làm Tư lệnh Sư đoàn 18 Bộ binh, các sĩ quan chỉ huy và tham mưu có tên như sau:
# Đại tá Lê Xuân Mai - Tư lệnh phó ''(sinh 1926 tại Hà Đông, khóa 4 Đà lạt)
# Đại tá Huỳnh Thao Lược - Tham mưu trưởng ''(sinh 1930 tại Bạc Liêu, khóa 3 Đà Lạt)
# Đại tá Hứa Yến Lến - Tiếp vận Hành quân ''(sinh 1932 tại Cần Thơ, khóa 6 Đà Lạt)
# Đại tá Lê Xuân Hiếu - Chỉ huy Trung đoàn 43 ''(sinh 1934 tại Thái Bình, khóa 10 Đà Lạt)
# Đại tá Trần Minh Công - Chỉ huy Trung đoàn 48 (sinh 1933 tại Thừa Thiên)
# Đại tá Ngô Kỳ Dũng - Chỉ huy Trung đoàn 52 ''(sinh 1935 tại Hải ngoại, khóa 14 Đà Lạt)
# Đại tá Dương Phún Sáng - Chánh thanh tra Sư đoàn ''(sinh 1926 tại Hải Ninh, khóa 3 Đà Lạt)
 
Đầu tháng 6 năm 1974, ông được lệnh của Trung tướng [[Phạm Quốc Thuần]], Tư lệnh [[Quân đoàn III (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn III]], đưa Sư đoàn 18 tiến vào [[Bến Cát]] trong Chiến dịch Tam Giác Sắt với mục tiêu đánh bật các đơn vị [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam]] đang soát các cứ điểm tại đây như một bàn đạp tấn công hỏa lực chỉ cách Sài Gòn 30&nbsp;km. Dù nhanh chóng chiếm lại được cứ điểm An Điền, trong các đợt giao tranh tại cứ điểm Rinet (đồi 82) và Rạch Bắp, trước sự chống trả quyết liệt của đối phương, Sư đoàn đã bị thiệt hại nặng nề sau 20 ngày giao chiến, vì thế được Sư đoàn 5 Bộ binh tiến vào thay thế. Và mãi đến cuối tháng 11 năm 1974, phía Việt Nam Cộng hòa mới chiếm lại được các cứ điểm còn lại.
 
Với thành tích chiến trận, Sư đoàn 18 trở thành một trong những đoàn ưu tú nhất của [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]]. Vì vậy, đến đầu tháng 4 năm 1975, sau khi đã để mất phân nửa diện tích lãnh thổ vào tay đối phương cùng với thiệt hại 40% binh lực chỉ sau gần 1 tháng, với kế hoạch "Nỗ lực tối đa", cố gắng thiết lập 3 phòng tuyến Tây Ninh, Phan Rang, và quan trọng nhất là Xuân Lộc, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hy vọng sẽ chặn đứng được đà tiến công của đối phương, giữ vững những phần đất còn lại của Việt Nam Cộng hòa để đạt được chút lợi thế còn lại trong đàm phán. Và tướng Lê Minh Đảo được chính Tổng thống Thiệu chỉ định làm Chỉ huy trưởng của phòng tuyến. Để thể hiện rõ quyết tâm, tướng Đảo tuyên bố ông sẽ tử thủ tại Xuân Lộc.
 
Tuy nhiên, trước sự áp đảo toàn diện của đối phương, phòng tuyến Xuân Lộc dù được bố phòng kỹ lưỡng, với binh lực tại chỗ hơn 12.000 quân (gồm Sư đoàn 18 và 3 chiến đoàn hỗn hợp), cộngcùng với lực lượng tăng cường (Liên đoàn 81 Biệt cách dù, Lữ đoàn 1 Nhảy dù...), đượcđồng khôngthời quânvới sự hỗ trợ, nhưngtối đa của Không quân. Nhưng sau khi các phòng tuyến Tây Ninh và Phan Rang lần lượt thất thủ, phòng tuyến Xuân Lộc trở nên mất tác dụng. Ông cùng với các đơn vị còn lại được lệnh rút về [[Biên Hòa]]. "Cánh cửa thép" Xuân Lộc bị mở tung sau 11 ngày kịch chiến.
 
==1975==
Ngày [[21 tháng 4]] năm 1975, Tổng thống Thiệu tuyên bố từ chức. Phó tổng thống [[Trần Văn Hương]] kế vị và để khích lệ tinh thần, đã thăng ông lên cấp [[Thiếu tướng]] vào ngày [[24 tháng 4]]. Nhưng điều đó vẫn không giảm được đà tiến vũ bão của đối phương. Tối ngày [[29 tháng 4]], ông nhận lệnh tiếp tục lui quân sau đó là lệnh đầu hàng trưa [[30 tháng 4]] năm 1975.
 
Ngày [[21 tháng 4]] năm 1975, Tổng thống Thiệu tuyên bố từ chức. Phó tổng thống [[Trần Văn Hương]] kế vị và để khích lệ tinh thần, đã thăng ông lên cấphàm [[Thiếu tướng]] vào (ngày [[24 tháng 4]]). Nhưng điều đó vẫn không giảm được đà tiến vũ bão của đối phương. Tối ngày [[29 tháng 4]], ông nhận lệnh tiếp tục lui quân sau đó là lệnh đầu hàng trưa [[30 tháng 4]] năm 1975.
 
==Bị lưu đày và cuộc sống xứ người==
Sau khi ổn định cuộc sống tại Hoa Kỳ, ông tham gia và tích cực tổ chức các hoạt động ái hữu trong giới cựu sĩ quan và binh sĩ Việt Nam Cộng hòa. Tháng 9 năm 2003, ông là một trong những đồng sáng lập tổ chức Tập thể Chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa và giữ chức Chủ tịch Trung tâm Điều hợp Trung ương.
 
==ĐờiGia đình==
* Phu nhân: Trần Thị Bích Liên. Ông bà có 9 người con, 2 trai và 7 gái.
Cha ông là ông Lê Hằng Cầm, từng là Công chức Tòa Sơ thẩm Sài Gòn. Mẹ ông là bà Ngô Thị Thao, làm nghề buôn bán nhỏ. Ngoài 5 người chị và em gái, ông còn 4 người em trai:
 
Cha mẹ ông sinh hạ tất cả 10 người con. Ngoài ông còn có 5 người chị em gái và 4 người em trai. Những người em trai này đều phục vụ như ông trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa:
 
* Lê Hằng Minh (1935-1966), Trung tá [[Thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng hòa|Thủy quân Lục chiến]]. Tử trận tại [[Phong Điền]], [[Thừa Thiên]].
* Lê Quang Thạch (1943-?) Trung sĩ Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tử trận.
* Lê Quang Ảnh (sinh 1945), từng là Chánh văn phòng Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao công Việt Nam.
 
==Xem thêm==
 
Thời trẻ, tướng Lê Minh Đảo từng là một nhạc công guitar giỏi, thường chơi cho những tụ điểm ca nhạc, phòng trà ở Sài Gòn vào đầu thập niên 1950, nhằm kiếm thêm thu nhập phụ giúp cha mẹ, lo học phí cho bản thân và các em, thậm chí còn sáng tác vài nhạc phẩm được khá đông người biết đến. Ông từng là thành viên của ban nhạc Lê Thương với vai trò nhạc công [[banjo]]. Một thành viên khác của ban Lê Thương là nhạc công [[guitar]] Nguyễn Văn Minh, về sau trở thành Trung tướng [[Nguyễn Văn Minh]], Tư lệnh Biệt khu Thủ đô.<ref>''Hồi ký [[Phạm Duy]], tập 3, "Ban hợp ca Thăng Long".</ref>
==Tham khảo==
{{tham khảo}}
 
* Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011), ''Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tr 274-276
==Liên kết ngoài==
*[http://www.generalhieu.com/hieu-lmd-2.htm Conversation with Brigadier General Le Minh Dao]
*[http://tvvn.org/f34/thia-u-tae-sng-las-minh-ae-o-ae-i-trai-nghia-p-la-nh-1575/ THIẾU TƯỚNG LÊ MINH ĐẢO Đời Trai, Nghiệp Lính Trong Cõi Trăm Năm]
*[http://www.sudoan18bobinh.com/#/phanngoctrung/4516877615 Một vài nét về Thiếu tướng Lê Minh Đảo]
* "Lược Sử Quân lực Việt Nam Cộng hoà" - Trần Ngọc Thống & Hồ Đắc Huân 2011.
* [http://sknc.qdnd.vn/sukiennhanchung/vi-vn/89/70/80/80/80/115192/Default.aspx Lê Minh Đảo và nỗi đau sau ngày thăng cấp]
* [http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2015/05/150514_meeting_general_dao Gặp Tướng bị cải tạo 17 năm]
 
{{thời gian sống|1933}}
 
[[Thể loại:Thiếu tướng Việt Nam Cộng hòa]]
[[Thể loại:Người Mỹ gốc Việt]]
[[Thể loại:Người Sài Gòn]]
[[Thể loại:Người Việt di cư tới Mỹ]]
[[Thể loại:Tù binh Chiến tranh Việt Nam]]
[[Thể loại:Tỉnh trưởng Long An]]
[[Thể loại:Tỉnh trưởng Chương Thiện]]
[[Thể loại:Tín hữu Công giáo Việt Nam]]
[[Thể loại:Tỉnh trưởng Định Tường]]
[[Thể loại:Sinh thập kỷ 1930]]
[[Thể loại:Người Thành phố Hồ Chí Minh]]
1.467

lần sửa đổi