Khác biệt giữa các bản “Đỗ Kế Giai”

không có tóm lược sửa đổi
(Tập tin DoKeGiai.jpg đã bị bỏ ra khỏi bài viết vì nó đã bị xóa ở Commons bởi Jameslwoodward vì lý do: Commons:Deletion requests/Files uploaded by Hoàng Đình Thảo - Using [[:c:)
=={{Tiểu sử== quân nhân
[[Tập|thumb]]
| hình=
'''Đỗ Kế Giai''' (1929-), nguyên là một tướng lĩnh gốc Nhảy dù của [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]], mang quân hàm [[Thiếu tướng]]. Xuất thân từ trường Võ bị quốc gia. Sau này ông được điều chuyển sang làm Tham mưu và chỉ huy trưởng các đơn vị bộ binh. Sau cùng, ông chuyển sang binh chủng Biệt động quân. Ông có gần 25 năm thâm niên quân vụ.
| tên= Đỗ Kế Giai
==Tiểu sử==
| ngày sinh= 1929
Ông sinh vào tháng 6 năm 1929 tại [[Bến Tre]], miền tây Nam phần. Tốt nghiệp Trung học Đệ nhị cấp, có bằng Tú tài.
| nơi sinh= Bến Tre, VN
==Binh nghiệp==
| ngày mất=
Năm 1951: Thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào '''Quân đội Quốc gia''', mang số quân: 49/118.249. Theo học khoá 5 Hoàng Diệu tại Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt ''(sau cải danh thành Võ bị Quốc gia. Khai giảng: 1/7/1951, mãn khoá: 24/4/1952)''. Tốt nghiệp với cấp bậc [[Thiếu úy]] hiện dịch.
| nơi mất=
| thuộc= [[Hình:GOFVNflag.jpg|22px]] [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]]
| năm phục vụ= 1951-1975
| cấp bậc= [[Hình:US-O8 insignia.svg|23px]] [[Thiếu tướng]]
| đơn vị= Sư đoàn Nhảy dù<br/>Sư đoàn 25 Bộ binh<br/>Sư đoàn 18 Bộ binh<br/>Bộ chỉ huy Biệt động quân
| chỉ huy= Quân đội Quốc gia<br/>Quân lực Việt Nam Cộng hòa
}}
'''Đỗ Kế Giai''' (1929-), nguyên là một tướng lĩnh gốc Nhảy dù của [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]], mang quân hàm [[Thiếu tướng]]. XuấtÔng xuất thân từ những khóa đầu tiên ở trường Võ bị quốcQuốc gia Việt Nam trong giai đoạn Quân đội Liên hiệp Pháp. Sau này, ông được điều chuyển sang làm Tham mưu và chỉChỉ huy trưởng các đơn vị bộ binh. Sau cùng, ông chuyểnlãnh sangtrách binhnhiệm chủngchỉ huy [[Lực lượng Biệt động quân. ÔngViệt Nam gầnCộng 25hòa|Binh nămchủng thâmBiệt niênđộng quân vụ]].
==Tiểu sử & Binh nghiệp==
Ông sinh vào tháng 6 năm 1929 tại [[Bến Tre]], miền tây Nam phần trong một gia đình điền chủ. TốtÔng đã tốt nghiệp Trung học Đệphổ nhịthông cấp,chương trình Pháp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).
 
NămTháng 19526 năm 1951, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào '''Quân đội Quốc gia''', mang số quân: 49/118.249. Theo học khóa 5 Hoàng Diệu tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt ''(sau cải danh thành trường Võ bị Quốc gia. Khai giảng ngày 1/7/1951, mãn khóa ngày 24/4/1952)''. Tốt nghiệp với cấp bậc [[Thiếu úy]] hiện dịch. Ra trường, ông được chọn phục vụ trong Tiểu đoàn 3 Nhảy dù của [[Quân đội Quốc gia Việt Nam]], đồn trú tại [[Hà Nội]].
 
NămTháng 7 năm 1954:, Sausau Hiệp định Genėve, ông được thăng cấp [[Trung úy]] cùng đơn vị di chuyển vào Nam đồn trú tại [[Nha Trang]].
 
Năm 1954: Sau Hiệp định Genėve, ông được thăng cấp [[Trung úy]] cùng đơn vị vào đồn trú tại [[Nha Trang]].
==Quân đội Việt Nam Cộng hòa==
Năm 1955:, Sausau khi chuyển sang phục vụ trongcơ cấu mới của [[Quân đội Việt Nam Cộng hòa]], ông được thăng cấp [[Đại úy]] và được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Nhảy dù thay thế Đại úy Nguyễn Văn Viên. Tháng 10 năm 1959, ông được thăng cấp [[Thiếu tá]] tại nhiệm.
 
Năm 1959: Ông được thăng cấp [[Thiếu tá]] tại nhiệm.
 
Năm 1960: Tháng 11, ông được đổi sang làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Nhảy dù thay thế Thiếu tá [[Ngô Xuân Soạn]] ''(bị sát hại vào nửa đêm ngày 11/11/1960 tại hậu cứ Tiểu đoàn 3 Dù vì không chịu tham gia cuộc đảo chính do Đại tá [[Nguyễn Chánh Thi]] cầm đầu).
 
Năm 1962: Tháng 1, ông được bổ nhiệm làm Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 2 Nhảy dù vừa được thành lập.
 
Năm 1965: Ông được thăng cấp [[Trung tá]] bàn giao Chiến đoàn 2 Dù lại cho Thiếu tá [[Ngô Xuân Nghị]] ''(sinh 1932 tại Khánh Hoà, tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt)''. Sau đó, ông được chuyển sang làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 25 bộ binh.
 
NămTrung 1960:tuần Thángtháng 11 năm 1960, ông được đổichuyển sang làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Nhảy dù thay thế Thiếu tá [[Ngô Xuân Soạn]] ''(bị sát hại vào nửa đêm ngày 11/11/1960 tại hậu cứ Tiểu đoàn 3 Dù vì không chịu tham gia cuộc đảo chính do Đại tá [[Nguyễn Chánh Thi]] cầm đầu).
Năm 1966: Tháng 9, ông được thăng cấp [[Đại tá]] và được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 10 bộ binh ''(sau được cải danh thành Sư đoàn 18 bộ binh)'' thay thế Thiếu tướng [[Lữ Mộng Lan]] đi làm Chỉ huy trưởng trường Đại học Quân sự tại Đà Lạt.
 
NămTháng giêng năm 1962, ông được cử làm Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 2 Nhảy dù vừa được thành lập. Đến đầu năm 1965:, Ôngông được thăng cấp [[Trung tá]] bàn giao Chiến đoàn 2 Dù lại cho Thiếu tá [[Ngô Xuân Nghị]] ''(sinh 1932 tại Khánh HoàHòa, tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt)''. Sau đó, ông được chuyển sang làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 25 bộ binh do Đại tá [[Nguyễn Thanh Sằng]] làm Tư lệnh.
Năm 1967: Tháng 11, ông được vinh thăng [[Chuẩn tướng]] tại nhiệm.
 
Năm 1966: Tháng 9 năm 1966, ông được thăng cấp [[Đại tá]] và được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 10 bộ binh ''(sau được cải danh thành Sư đoàn 18 bộ binh)'' thay thế Thiếu tướng [[Lữ Mộng Lan|Lữ Lan]] đi làm Chỉ huy trưởng trường Đại học Quân sự tại Đà Lạt.
Năm 1969: Tháng 8, bàn giao Sư đoàn 18 lại cho Chuẩn tướng [[Lâm Quang Thơ]] ''(nguyên Chỉ huy trưởng trường bộ binh Thủ Đức)''. Ông được điều động về phục vụ tại [[Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Bộ Tổng tham mưu]].
:''(Đầu năm 1967, ông sáng kiến đề nghị cải danh Sư đoàn Bộ binh 10 thành Sư đoàn 18 Bộ binh và được Bộ Tổng tham mưu chấp thuận)
 
NămĐầu 1969:tháng Tháng11 năm 1967, ông được vinh thăng hàm [[Chuẩn tướng]] tại nhiệm. Ngày 20 tháng 8 năm 1969, ông nhận lệnh bàn giao Sư đoàn 18 lại cho Chuẩn tướng [[Lâm Quang Thơ]] ''(nguyên Chỉ huy trưởng trường bộBộ binh Thủ Đức)''. ÔngSau đó, ông được điều động về phục vụ tại [[Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Bộ Tổng tham mưu]].
Năm 1972: Tháng 8 năm 1972, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng LựcBinh lượngchủng Biệt động quân ''(Bộ chỉ huy Biệt động quân Trung ương)''. Tháng 4 năm 1974, ông được vinh thăng hàm [[Thiếu tướng]] tại nhiệm.
 
Năm 1974: Tháng 4, ông được vinh thăng [[Thiếu tướng]] tại nhiệm.
==1975==
Sau ngày 30 tháng 4, ông bị chính quyền mới bắt đi cải tạo (tù)và bị lưu đày suốt 17 năm, mãi cho đến giữangày 5 tháng 5 năm 1992 ông mới được trả tự do.
 
NămHạ tuần tháng 10 năm 1993:, Ôngông được cho phép xuất cảnh theo diện H.O, saudo Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh. Sau đó, ông được định cư tại Garland, [[Tiểu bang Texas]], [[Hoa Kỳ]].
 
==Tham khảo==
{{tham khảo}}
 
* {{chú thích sách |author=Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy |year=2011 |title=Lược sử quân lực Việt Nam Cộng hòa |publisher=Hương Quê |isbn=978-0-9852-1820-1}} {{cầntr số trang}}279-280
 
{{Thời gian sống|1929}}
1.467

lần sửa đổi