Khác biệt giữa các bản “Chư hầu”

n
sửa lỗi chính tả, replaced: NXB → Nhà xuất bản (3) using AWB
n
n (sửa lỗi chính tả, replaced: NXB → Nhà xuất bản (3) using AWB)
'''Chư hầu''' là một từ xuất phát từ [[chữ Hán]] (諸侯), trong nghĩa hẹp của [[chữ Hán]] dùng từ thời Tam Đại ở [[Trung Quốc]] (gồm [[nhà Hạ]], [[nhà Thương]], [[nhà Chu]]) để chỉ ''trạng thái'' các vua chúa của các ''tiểu quốc'' bị phụ thuộc, phải phục tùng một [[vua]] chúa lớn mạnh hơn làm [[thiên tử]] thống trị tối cao. Các nước nhỏ có sự thừa nhận chính thức vị thế chư hầu trước một nước lớn và được gọi là "nước chư hầu".
 
Tại châu Âu trong chế độ phong kiến [[thời trung cổ]] mối quan hệ chư hầu (vassal) tồn tại ở dạng các lãnh chúa địa phương tuyên thệ trung thành với vua.<ref>F. L. Ganshof, "Benefice and Vassalage in the Age of Charlemagne" Cambridge Historical Journal 6.2 (1939:147-75).</ref>
 
Sau này, ''chư hầu'' được sử dụng theo nghĩa bóng, dùng để chỉ tình trạng nước nhỏ phụ thuộc lộ liễu vào nước lớn nào đó, với mức độ phụ thuộc khác nhau, mà không có các danh xưng "chư hầu" và "minh chủ" nữa. Vào thời kỳ [[chủ nghĩa tư bản]] ra đời và xâm chiếm thuộc địa thì quan hệ lệ thuộc được xác định ở các mức "[[thuộc địa]]" (phụ thuộc hoàn toàn) hay "bảo hộ" (có chính quyền địa phương tồn tại nhưng không độc lập). Sau [[Thế chiến thứ hai]] khi hệ thống [[thuộc địa]] tan vỡ thì xuất hiện dạng thay thế là các hiệp ước liên minh tay đôi hoặc đa quốc gia như các "khối quân sự" [[NATO]], [[SEATO]], [[CENTO]], [[khối Warszawa]],... Đó là một hiện tượng của lịch sử, các nước nhỏ gom quanh ô che của nước lớn thành nhóm để tồn tại trong thế giới có nhiều xung đột.
 
==Trong lịch sử==
Vào thời kỳ đầu của xã hội phong kiến, quyền lực vốn nằm trong tay thủ lĩnh [[bộ lạc]] chuyển đổi thành ''lãnh chúa'' cát cứ trong lãnh thổ của họ. Các xung đột xảy ra thì bên cạnh dạng cá lớn nuốt trọn cá bé, cũng nổi lên dạng lãnh chúa mạnh và khôn ngoan, thiết lập quyền kiểm soát các lãnh thổ khác ở mức xác định.
 
Tại Trung Quốc nó dẫn đến mô hình thiên tử - chư hầu ở thời [[nhà Hạ]] (Tk 21- Tk 16 TCN) và [[nhà Thương]] (Tk 16 - Tk 11 TCN). Mối quan hệ thiên tử - chư hầu lúc đầu còn ở dạng sơ khai, chưa có một lý thuyết nền tảng về xã hội. Quan hệ giữa các thành phần biến động theo khả năng duy trì thực lực của các thành phần đó, và nói chung là còn lỏng lẻo, các chư hầu thì vẫn chia phái hoặc liên minh hoặc đánh chiếm lẫn nhau. Các di chỉ khảo cổ thời [[nhà Thương]] cho thấy các thuộc quốc của triều đại này gọi là "Phương quốc", giữa vua [[nhà Thương]] với các thủ lĩnh bộ tộc đó không có quan hệ vua tôi mà chỉ là liên minh quân sự. Vua nhà Hạ, nhà Thương chỉ đóng vai trò đứng đầu liên hợp các phương quốc, được các nước đó gọi là "đại quốc", "đại ấp" và các nước này xưng "tiểu quốc", "tiểu ấp"<ref name="ckh19">Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 19</ref>.
 
Sang thời [[nhà Chu]] (Tk 11 - Tk 3 TCN), đại đa số các chư hầu đều là người thân thích hoặc công thần nhà Chu, chịu sự ràng buộc khá chặt chẽ, có quan hệ vua tôi với thiên tử nhà Chu<ref name="ckh19"/>. Chư hầu có nghĩa vụ với thiên tử nhà Chu như: triều kiến định kỳ, cống nạp, điều quân theo sự huy động của vua Chu khi có chiến tranh hoặc làm lễ lớn để trợ tế...<ref>Trương Tú Bình, Vương Hiểu Minh, sách đã dẫn, tr 28</ref><ref>Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 21</ref>.
 
Sang thời [[Nhà Chu|Đông Chu]] (Tk 8 - Tk 3 TCN), thiên tử suy yếu, các chư hầu nổi lên lấn át quyền hành. Những chư hầu mạnh thay nhau lãnh đạo, chi phối chư hầu khác, không thần phục thiên tử. Cuối cùng, chư hầu mạnh nhất là [[tần (nước)|nước Tần]] tiêu diệt các chư hầu khác vào năm [[221 TCN]], thành lập [[nhà Tần]].
 
[[Nhà Tần]] xây dựng được ''nhà nước trung ương tập quyền vững mạnh đầu tiên'' ở Trung Quốc, và cùng với các học thuyết về xã hội phong kiến và chiến tranh ra đời vào thời [[Xuân Thu]] [[Chiến Quốc]]{{efn|Nổi bật nhất là luận thuyết của [[Khổng Tử]] và [[Tôn Vũ]], những lý luận chủ đạo cho xã hội phong kiến Trung Hoa bước vào giai đoạn mới}}, chấm dứt thời hỗn mang của các tiểu quốc.
Thời kỳ [[nhà Hạ]] (Tk 21- Tk 16 TCN) và [[nhà Thương]] (Tk 16 - Tk 11 TCN) là thời kỳ huyền sử, chưa có chữ viết và không có ghi chép hệ thống nào. Đời sau lúc có chữ viết (sớm nhất là Tk 11 TCN), thì các sử gia cổ dựa trên truyền khẩu chép lại, gán cho đầy đủ tên họ thụy hiệu và thời gian, nhằm minh họa cho nguồn gốc của dân tộc mình. Các sử gia hiện đại ở TQ thì thiên về bảo vệ tính tự tôn của dân tộc.
 
Vì thế tính chính xác các sự kiện không được kiểm chứng.
 
== Chỉ dẫn ==
** ''Chu bản kỷ''
** ''Ân bản kỷ''
* Trương Tú Bình, Vương Hiểu Minh ([[1998]]), ''Một trăm sự kiện của Trung Quốc'', NXBNhà xuất bản Văn hóa thông tin
* Cát Kiếm Hùng chủ biên ([[2006]]), ''Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, tập 1,'' NXBNhà xuất bản Văn hoá thông tin
* Trình Doãn Thắng, Ngô Trâu Cương, Thái Thành ([[1998]]), ''Cố sự Quỳnh Lâm'', NXBNhà xuất bản Thanh Hoá
 
== Liên kết ngoài ==