Khác biệt giữa các bản “Mạc Thiên Tứ”

không có tóm lược sửa đổi
n (clean up, replaced: phụ thân → cha using AWB)
[[Tập tin:Mộ Mạc Thiên Tứ.jpg|nhỏ|phải|200px|Mộ Mạc Thiên Tứ trong khu mộ dòng họ Mạc, trên núi Bình San, Hà Tiên.]]
'''Mạc Thiên Tứ''' (鄚天賜), tự là '''Sĩ Lân''' (士麟), còn gọi là '''Mạc Thiên Tích''' (鄚天錫)<ref>''Tích'' 錫 hay ''Tứ'' 賜, bộ bối đổi thành bộ kim, đều có nghĩa là "Trời ban cho". Có lẽ đổi ''Tứ'' thành ''Tích'' vì trùng tên với Công tử Nguyễn Phước Tứ, là con thứ 8 của chúa [[Nguyễn Phúc Chu]]. (chú thích theo Nguyễn Hiền Đức, ''Lịch sử Phật giáo [[Đàng Trong]]''. NXB TP. Hồ Chí Minh, 1995, tr. 452).</ref>, là danh thần đời [[chúa Nguyễn]]. Ông sinh năm [[Mậu Tuất]] ([[1718]]) và mất năm [[Canh Tý]] ([[1780]])([[1718]]-[[1780]]). Ông là con Tổng binh [[Mạc Cửu]] - người được [[chúa Nguyễn]] phong là Tông Đức hầu.
 
Khi cha ông qua đời ([[1735]]), lúc ấy ông đã 29 tuổi, ông nối nghiệp cha mở mang đất [[Hà Tiên]], được chúa [[Nguyễn Phúc Chú|Nguyễn Phúc Trú]] phong chức Tổng binh Đại đô đốc. Ông tiếp tục sự nghiệp khai khẩn miền Tây [[Nam Bộ Việt Nam|Nam Bộ]], biến vùng đất [[Hà Tiên]] trở thành đất văn hiến, phồn vinh, nhiều lần chống trả lại các cuộc tấn công của các lân bang [[Xiêm|Xiêm La]] và [[Chân Lạp]].
1.086

lần sửa đổi