Khác biệt giữa các bản “Chư hầu”

n
không có tóm lược sửa đổi
n (sửa lỗi chính tả, replaced: NXB → Nhà xuất bản (3) using AWB)
n
Sau này, ''chư hầu'' được sử dụng theo nghĩa bóng, dùng để chỉ tình trạng nước nhỏ phụ thuộc lộ liễu vào nước lớn nào đó, với mức độ phụ thuộc khác nhau, mà không có các danh xưng "chư hầu" và "minh chủ" nữa. Vào thời kỳ [[chủ nghĩa tư bản]] ra đời và xâm chiếm thuộc địa thì quan hệ lệ thuộc được xác định ở các mức "[[thuộc địa]]" (phụ thuộc hoàn toàn) hay "bảo hộ" (có chính quyền địa phương tồn tại nhưng không độc lập). Sau [[Thế chiến thứ hai]] khi hệ thống [[thuộc địa]] tan vỡ thì xuất hiện dạng thay thế là các hiệp ước liên minh tay đôi hoặc đa quốc gia như các "khối quân sự" [[NATO]], [[SEATO]], [[CENTO]], [[khối Warszawa]],... Đó là một hiện tượng của lịch sử, các nước nhỏ gom quanh ô che của nước lớn thành nhóm để tồn tại trong thế giới có nhiều xung đột.
 
== Trong lịch sử Trung Quốc ==
Vào thời kỳ đầu của xã hội phong kiến, quyền lực vốn nằm trong tay thủ lĩnh [[bộ lạc]] chuyển đổi thành ''lãnh chúa'' cát cứ trong lãnh thổ của họ. Các xung đột xảy ra thì bên cạnh dạng cá lớn nuốt trọn cá bé, cũng nổi lên dạng lãnh chúa mạnh và khôn ngoan, thiết lập quyền kiểm soát các lãnh thổ khác ở mức xác định.
 
Sang thời [[Nhà Chu|Đông Chu]] (Tk 8 - Tk 3 TCN), thiên tử suy yếu, các chư hầu nổi lên lấn át quyền hành. Những chư hầu mạnh thay nhau lãnh đạo, chi phối chư hầu khác, không thần phục thiên tử. Cuối cùng, chư hầu mạnh nhất là [[tần (nước)|nước Tần]] tiêu diệt các chư hầu khác vào năm [[221 TCN]], thành lập [[nhà Tần]].
 
[[Nhà Tần]] xây dựng được ''nhà nước trung ương tập quyền vững mạnh đầu tiên'' ở Trung Quốc, và cùng với các học thuyết về xã hội phong kiến và chiến tranh ra đời vào thời [[Xuân Thu]] [[Chiến Quốc]]{{efn|Nổi bật nhất là luận thuyết của [[Khổng Tử]] và [[Tôn Vũ]], những lý luận chủ đạo cho xã hội phong kiến Trung Hoa bước vào giai đoạn mới.}}, chấm dứt thời hỗn mang của các tiểu quốc.
 
Theo ý kiến của [[Lý Tư]], để tránh việc các chư hầu liệt quốc đánh nhau sau nhiều đời không còn thân thiết với quan hệ huyết thống, [[Tần Thủy Hoàng]] lập ra chế độ quận huyện, không phong cho thân thích và công thần.
 
== Nghi vấn lịch sử ==
Thời kỳ [[nhà Hạ]] (Tk 21- Tk 16 TCN) và [[nhà Thương]] (Tk 16 - Tk 11 TCN) là thời kỳ huyền sử, chưa có chữ viết và không có ghi chép hệ thống nào. Đời sau lúc có chữ viết (sớm nhất là Tk 11 TCN), thì các sử gia cổ dựa trên truyền khẩu chép lại, gán cho đầy đủ tên họ thụy hiệu và thời gian, nhằm minh họa cho nguồn gốc lâu đời của dân tộc mình. Các sử gia hiện đại ở TQ thì thiên về bảo vệ tính tự tôn của dân tộc, không có ý định đưa ra những gì trái với lịch sử đã chép.
 
Vì thế tính chính xác các sự kiện không được kiểm chứng.