Khác biệt giữa các bản “Cá heo mũi chai Ấn Độ Dương”

không có tóm lược sửa đổi
Loài cá heo này dài đến 2,6 m, và cân nặng tới 230 kg<ref name=princeton>{{cite book|title=Whales Dolphins and Other Marine Mammals of the World|author=Shirihai, H. and Jarrett, B.|pages=159–161|year=2006|isbn=0-691-12757-3}}</ref>. Loài này sinh sống trong các vùng nước xung quanh Ấn Độ, Bắc Australia, Nam Trung Quốc, Biển Đỏ, và bờ biển phía đông của châu Phi. Lưng của chúng có màu xám đen và bụng có mày xám nhạt hơn hoặc gần như trắng với những đốm màu xám<ref name=princeton/>.
 
Cho đến năm 1998, tất cả các cá heo mũi chai Ấn Độ Dương được coi là thành viên của loài ''T. truncatus''. Trong năm đó, cá heo mũi chai Ấn Độ Dương đã được công nhận là một loài riêng biệt<ref name=encyc>{{cite book|title=Encyclopedia of Marine Mammals|author=Wells, R. and Scott, M.|chapter=Bottlenose Dolphins|editor=Perrin, W.; Wursig, B. and Thewissen, J.|pages=122–127|year=2002|publisher=Academic Press|isbn=0-12-551340-2}}</ref><ref>{{cite journal|author=Möller Luciana M., Beheregaray Luciano B|year= 2001|title= Coastal bottlenose dolphins from southeastern Australia are ''Tursiops aduncus'' according to sequences of the mitochondrial DNA control region|journal= Marine Mammal Science |volume=17|issue=2|pages= 249–263|doi=10.1111/j.1748-7692.2001.tb01269.x}}</ref>. Loài cá heo mũi chai Ấn Độ Dương nhìn chung nhỏ hơn so với [[cá heo mũi chai]], có mõ đài tương ứng, và có các đốm trên bụng của và phía thấp hơn<ref name=encyc/><ref name=audubon>{{cite book|title=Guide to Marine Mammals of the World|author=Reeves, R.; Stewart, B.; Clapham, P.; Powell, J.|year=2002|pages=362–365|isbn=0-375-41141-0}}</ref>. Chúng cũng có nhiều răng nhiều hơn cá heo mũi chai thông thường -23 đến 29 răng trên mỗi bên của mỗi hàm so với 21-24 của cá heo mũi chai thông thường<ref name=audubon/>. Có bằng chứng cho thấy cá heo mũi chai Ấn Độ Dương thực sự có thể liên quan chặt chẽ hơn đối với các loài cá heo nhất định trong chi ''[[Stenella]]'' và ''[[Delphinus]]'', đặc biệt là [[cá heo mũi chai đốm Đại Tây Dương]] (''S. frontalis''), hơn là với [[cá heo mũi chai]]<ref name=encyc/><ref>{{cite journal|title=Phylogenetic Relationships among the Delphinid Cetaceans Based on Full Cytochrome B Sequences|author=Leduc, R., Perrin, W. & Dizon, E.|date=August 18, 1998|journal=Marine Mammal Science|volume=15|issue=3|pages=619–648|doi=10.1111/j.1748-7692.1999.tb00833.x}}</ref>.
 
Phần lớn các dữ liệu khoa học cũ trong lĩnh vực này kết hợp dữ liệu về cá heo mũi chai Ấn Độ Dương và [[cá heo mũi chai]] vào một nhóm duy nhất, làm khiến nó trở nên vô ích trên thực tế trong việc xác định cấu trúc khác biệt giữa hai loài. IUCN liệt kê loài cá heo mũi chai Ấn Độ Dương là "thiếu dữ liệu" trong Danh sách đỏ các loài bị đe dọa vì vấn đề này của chúng<ref>{{cite web| url=http://www.iucnredlist.org/search/details.php?species=22563| title=Tursiops truncatus: Species Information | publisher=[[IUCN]] |accessdate=2006-11-03}}</ref>.
Người dùng vô danh