Khác biệt giữa các bản “Đinh Liệt”

n
clean up, replaced: → (2) using AWB
n (clean up, replaced: → (2) using AWB)
Cuối năm 1427, Liễu Thăng mang viện binh sang, ông được lệnh cùng [[Lê Sát]] mang quân lên Chi Lăng, góp sức diệt địch, chém được Liễu Thăng, đánh tan đạo viện binh.
 
Đầu năm 1428 ông được xếp vào chức thủ quân thiết đột.
 
Tháng 2, vua Lê Thái Tổ định các mức khen thưởng cho những hỏa thủ và quân nhân của quân Thiết đột có công lao siêng năng khó nhọc ở Lũng Nhai gồm 121 người, Đinh Liệt công hạng nhất, ban quốc tính, phong Suy trung tán trị hiệp mưu bảo chính công thần, Vinh lộc đại phu, tả Kim ngô vệ đại tướng quân, tước Thượng trí tự. <ref name="ReferenceA">Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhân vật chí, Nhà xuất bản giáo dục, 2006</ref>
 
==Công thần thời bình==
 
===Khi thăng khi giáng===
Năm 1429, khi khắc biển công thần, Đinh Liệt được phong làm Đình Thượng hầu.<ref>Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhân vật chí, Nhà xuất bản giáo dục, 2006<name="ReferenceA"/ref>
 
Năm 1432, ông được phong làm Nhập nội tư mã, tham dự triều chính.<ref>Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhân vật chí, Nhà xuất bản giáo dục, 2006</ref>
 
Năm 1432, ông được phong làm Nhập nội tư mã, tham dự triều chính.<ref>Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhân vật chí, Nhà xuất bản giáo dục, 2006<name="ReferenceA"/ref>
 
Tháng 5 năm 1434 đời [[Lê Thái Tông]] có quân [[Chiêm Thành]] vào cướp phá, ông được lệnh lĩnh các quân [[Nghệ An]], Tân Bình, [[Thuận Hoá]] đánh địch. Đinh Liệt được lệnh vua thống đốc các đạo quân Nghệ An, Tân An, Thuận Hóa đi các vùng Tân An, Thuận Hóa đi tuần tiễu. Khi đến Hóa Châu, gặp người Man trưởng Hóa Châu là Đạo Dụ bị Đạo Man đánh, Đinh Liệt đưa quân đánh giúp, bắt hơn nghìn người, mấy chục con voi đem về.
{{cquote|''Đặt Thái tử để vững gốc rễ, lập con đích để chính danh phận. Đó là mưu xa của xã tắc, kế lớn của quốn gia. Hoàng tử Bang Cơ thể chất vàng ngọc, tư thái anh minh, vừa có uy vọng của một bậc quân vương, lại đúng danh phận là con đích tôn quý. Vậy sai Nhập nội đại đô đốc Lê Liệt mang sắc mệnh lập làm Hoàng thái tử''|||Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, chương X}}
 
Tháng 8, 1442, vua Lê Thái Tông băng ở Lệ Chi Viên, ngày 12, đại thần Nguyễn Xí, Lê Thụ, Trịnh Khả nhận di mệnh cùng với Lê Liệt, Lê Bôi tôn Hoàng thái tử Bang Cơ lên ngôi. Lúc ấy, vua mới 2 tuổi. Lấy năm sau làm Thái Hòa năm thứ 1. <ref>Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, chương X, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà nội, 1993</ref>
 
Năm 1444 đời [[Lê Nhân Tông]], vua còn nhỏ, có người vu cáo ông, thái hậu Nguyễn Thị Anh cầm quyền nhiếp chính sai giam cả nhà ông dưới hầm. Nhờ có người trong hoàng tộc là Lê Khắc Phục và công chúa Ngọc Lan xin hộ, đến tháng 6 năm 1448 ông mới được tha ra, nhưng vợ con vẫn bị giam. Đến tháng 3 năm 1450 gia đình ông mới được thả.<ref>Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, quyển XII, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993</ref>
 
===Trọng thần thời Lê Thánh Tông===
Ngày 3, tháng 10 năm 1459, Lạng Sơn Vương Lê Nghi Dân đang đêm bắc thang, chia quân ba đường, trèo thành cửa đông, lẻn vào cung cấm. Vua Lê Nhân Tông và Tuyên Từ hoàng hậu bị hại. Ngày mồng 7, tháng mười năm đó Lê Nghi Dân tự lập, lên ngôi hoàng đế.
 
Ngày mồng 6, tháng 6 năm 1460, Đinh Liệt lúc ấy giữ chức Khai phủ nghi đồng tam ty Thái phó bình chương quân quốc trọng sự Á quận hầu, cùng với khai phủ nghi đồng tam ty nhập nội kiểm hiệu thái phó bình chương quân quốc trọng sự Á quận hầu Nguyễn Xí, Nhập nội kiểm hiệu bình chương quân quốc trọng sự Á thượng hầu Lê Lăng, tư mã tham dự triều chính Đình thượng hầu Lê Niệm, Tổng tri ngự tiền hậu quân Á hầu Lê Nhân Thuận, Tổng tri ngự tiền trung quân Quan nội hầu Lê Nhân Khoái, tổng tri ngự tiền thiện trạo doanh quân Quan phục hầu Trịnh Văn Sái, Thiêm tri Bắc đạo quân dân bạ tịch Trịnh Đạc, Điện tiền ty đô chỉ huy Nguyễn Đức Trung, thiết đột tả quân đại đội trưởng Nguyễn Yên. Nhập nội đại hành khiển Lê Vĩnh Trường, Điện tiền ty chỉ huy Lê Yên, Lê Giải cùng bàn với nhau lật đổ Lạng Sơn Vương Lê Nghi Dân.
 
Sau buổi chầu, Nguyễn Xí, Đinh Liệt cầm quân giết Phạm Đồn, Phan Ban, giáng Nghi Dân làm Lệ Đức Hầu, rước hoàng tử Tư Thành lên ngôi, tức vua Lê Thánh Tông.<ref name="ReferenceB">Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, quyển XII </ref>
 
Tháng 10, năm 1460, vua Lê Thánh Tông phong ông làm Lân Quận Công.<ref>Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, quyển XII <name="ReferenceB"/ref>
 
Tháng 12 năm 1460, ông cùng Lê Lăng đi đánh tù trưởng họ Cầm làm loạn, được thăng lên chức thái sư phụ chính.<ref>Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhân vật chí, Nhà xuất bản giáo dục, 2006<name="ReferenceA"/ref>
 
Năm 1465, [[Nguyễn Xí]] mất, Đinh Liệt làm quan đầu triều, từ đó thường quyết định nhiều việc lớn của triều đình, được vua và các quan lại rất tôn trọng.
 
==Hậu thế ghi công==
Tên Đinh Liệt được đặt tên cho một con phố ở Hà Nội, là phố nhỏ nối từ Hàng Bạc ra Cầu Gỗ, dài 175m, thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.<ref>Phố Đinh liệt[http://diachiso.vn/ha-noi/hoan-kiem/dinh-liet Phố Đinh liệt]</ref>
 
Tên của ông cũng được đặt tên cho các con đường ở thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Nha Trang.
 
== Nhận định==
{{cquote|''Xét Lê Liệt đây: Sớm đem tình ruột thịt ra ứng hội phong vân. Tiếng kèn, tiếng sáo, xướng họa, khó biết anh em ai hơn, ai kém. Kế ở miếu đường, mưu ở biên cương; vừa tướng văn, vừa tướng võ. Khi tiến khi lui cùng nước, cùng vui cùng lo. Lúc nguy hiểm, lúc bình thường vẫn trọn một tiết. Chịu cố mệnh hai triều, người nhiều công giúp đỡ. Xứng đáng làm bầy tôi xã tắc; lại được ký thác cho việc cầm cân để thêm trọng vọng. Công lao và chức vị càng to; nơi nơi xa gần ai đều cũng thấy''|||Bài chế của vua Lê Thánh Tông khi ban chức Khai phủ nghi đồng tam ty Thái phó bình chương quân quốc trọng sự Á quận hầu.}}<ref>Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhân vật chí, Nhà xuất bản giáo dục, 2006<name="ReferenceA"/ref>
 
{{cquote|''Ông là người có công to khi mới mở nước, trải thờ bốn triều. Lại là công thần bậc nhất buổi Trung hưng:chức vị và đức vọng cao chót vót. Từ năm Quang Thuận trở đi (1465) làm thủ tướng gần 10 năm, quyết đoán những mối ngờ lớn, quyết định những việc bàn lớn. Vua rất tin cậy, trong triều ngoài nội đều tôn trọng''|||Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhân vật chí}}<ref>Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhân vật chí, Nhà xuất bản giáo dục, 2006<name="ReferenceA"/ref>
 
==Xem thêm==
==Chú thích==
{{tham khảo}}
 
 
{{Khởi nghĩa Lam Sơn}}