Khác biệt giữa các bản “Agnieszka Radwańska”

không có tóm lược sửa đổi
'''Agnieszka "Aga" Radwańska''' là 1 [[vận động viên]] [[quần vợt]] chuyên nghiệp [[người Ba Lan]]. Radwańska đạt thứ hạng cao nhất là số 2 [[thế giới]] vào [[tháng 7]] năm [[2012]]. Được biết đến là 1 tay vợt biết cách xây dựng [[chiến thuật]] thi đấu cũng như lối chơi thông minh, phòng ngự và phản công tốt ở cuối sân, [[Agnieszka Radwańska|Radwanska]] đã có được 17 danh hiệu đơn trong sự nghiệp.
 
[[Agnieszka Radwańska|Radwanska]] đã từng tiến sâu vào 1 giải [[Grand Slam (quần vợt)|Grand Slam]] đó là tại giải [[Giải vô địch Wimbledon 2012|Wimbledon 2012]] và đã để thua [[Serena Williams]]. Ngoài ra, còn vào được bán kết của [[Giải quần vợt Úc Mở rộng|Úc Mở rộng]] và tứ kết [[Giải quần vợt Roland-Garros|Roland Garros]].
 
Ngoài ra, cô còn chơi ở nội dung đôi, từng đánh cặp với [[Maria Kirilenko]] và [[Daniela Hantuchová]], nhưng sau năm [[2010]], [[Agnieszka Radwańska|Radwanska]] tập trung cho nội dung đơn và ít khi tham gia đánh đôi.
 
[[Agnieszka Radwańska|Radwanska]] được bình chọn là tay vợt nữ được yêu thích nhất của [[Hiệp hội quần vợt nữ|WTA]] trong 5 năm liên tiếp (2011-2015).<ref name=Awards>{{chú thích báo |title=WTA Awrads |publisher=wtatennis.com |date= |accessdate=ngày 5 tháng 12 năm 2014 |url=http://www.wtatennis.com/scontent/article/3010014/title/wta-awards}}</ref> Với thành tích của mình trong [[thể thao]], năm [[2013]], cô đã được [[Tổng thống Cộng hòa Ba Lan|Tổng thống Ba Lan]] [[Bronisław Komorowski]] trao tặng huy hiệu chữ thập vàng.
== Cuộc sống cá nhân ==
Sinh ra tại [[Kraków]], Radwanska bắt đầu tập chơi [[Quần vợt|tennis]] từ năm 4 tuổi. Khi đó, cha cô đã giúp cô làm quen với tennis cũng như các môn thể thao khác. Em gái cô là [[Urszula Radwanska]] cũng là 1 vận động viên quần vợt. Cô hâm mộ [[Martina Hingis]] và [[Pete Sampras]] và lấy đó làm nguồn cảm hứng chơi tennis cho mình. Ngoài chơi tennis, Radwanska còn theo học ngành [[du lịch]] tại trường đại học tại Kraków.<ref name=profile>
===2011===
[[Tập tin:Agnieszka Radwanska in Tokyo.jpg|nhỏ|trái|Radwanska tại Toray Pan Pacific Open 2011]]
Agnieszka lọt đến tứ kết Úc Mở rộng, nơi cô thua trước nhà vô địch năm đó [[Kim Clijsters]] với tỉ số 3–6 6–7<sup>4–7</sup>. Tại Pháp Mở rộng, cô lại một lần nữa dừng bước ở vòng 4 sau trận thua trước[[Maria Yuryevna Sharapova|Maria Sharapova]]. Tại [[Giải Vô địch Wimbledon|Wimbledon]], thua [[Petra Cetkovska]] của [[Cộng hòa Czech|Cộng hòa Séc]] tại vòng 2. Ở [[Giải quần vợt Mỹ Mở rộng|US Open]], cô thua [[Angelique Kerber]] tại vòng 2 sau khi đánh bại cô em Urszula Radwańska của mình ở vòng 1. Radwanska có danh hiệu WTA tại [[Tokyo]] sau chiến thắng trước Vera Zvonareva. Tại China Open, Radwanska có được chức vô địch sau khi thắng [[Andrea Petkovic]] 7–5 0–6 6–4 trong trận chung kết. Radwanska giành được 1 suất tham dự WTA Championships với cương vị hạt giống số 8, dừng bước tại vòng bảng.
Agnieszka Radwanska kết thúc năm 2011 ở vị trí số 8 thế giới.
 
[[Tập tin:Agnieszka Radwanska London 2012.jpg|phải|nhỏ|Radwańska tại Olympics 2012]]
Năm 2012 được coi như 1 bước ngoặc trong sự nghiệp cua Agnieszka Radwanska.
Tại Úc Mở rộng, Radwanska lần thứ 3 phải dừng bước tại tứ kết, thua [[Victoria Azarenka]] sau 3 set. Radwanska có danh hiệu WTA tại [[Dubai]] sau chiến thắng trước [[Julia Goerges]] và danh hiệu tại [[Miami]] sau chiến thắng bất ngờ 7–5 6–4 trước [[Maria Yuryevna Sharapova|Maria Sharapova]].
Trên mặt sân đất nện, Radwanska có danh hiệu WTA tại [[Brussels]], ([[Bỉ]]) sau chiến thắng trước [[Simona Halep]] 7–5 6–0 ở trận chung kết. Tại Pháp Mở rộng, sau khi đánh bại Venus Williams tại vòng 2, Radwanska phải dừng bước tại vòng 3 sau trận thua trước Kuznetsova. Tại Wimbledon, Radwanska lần đầu tiên có mặt tại trận chung kết của giải và cũng là trận chung kết [[Grand Slam quần vợt|Grand Slam]] đầu tiên trong sự nghiệp, thua trước [[Serena Williams]] 1–6 7–5 2–6 trong trận chung kết. Tại [[Thế vận hội mùa hè 2012|Olympics London 2012]], Radwanska đại diện cho nước Ba Lan tham dự với cương vị hạt giống số 2 nhưng cô lại thua 1 cách bất ngờ trước Julia Goerges 5–7 7–6<sup>5–7</sup> 6–4 tại vòng một.<ref>{{chú thích web|url=http://sport.uk.msn.com/tennis/radwanska-makes-shock-exit|title=
Radwanska makes shock exit |accessdate=ngày 29 tháng 7 năm 2012}}</ref> Tại US Open, Radwanska được xếp hạt giống số 2 nhưng lại thua trước hạt giống số 20 [[Roberta Vinci]] tại vòng 4 khiến cô rơi xuống vị trí số 4 thế giới. Tại WTA Championships, Radwanska lọt đến trận bán kết, thua Serena Williams 6–2 6–1.
Tại Úc Mở rộng, Radwanska lần đầu tiên vào bán kết sau 5 năm thất bại tại tứ kết khi bất ngờ đánh bại nhà đương kim vô địch [[Victoria Azarenka]] 6–1 5–7 6–2 tại tứ kết, cô đã tạo nên 1 kết quả mà ít ai nghĩ tới. Tại Roger Cup (Montreal, Canada), Radwanska dành được chức vô địch khi đánh bại [[Venus Williams]] trong trận chung kết. Tại WTA Final, cô để thua trước [[Maria Sharapova]] và [[Caroline Wozniacki]] nhưng đã giành chiến thắng trước [[Petra Kvitová]] để lọt vào bán kết rồi dừng bước trước [[Simona Halep]]. Radwanska kết thúc năm 2014 với vị trí thứ 6.
 
Radwanska khởi đầu năm 2015 cùng đồng đội [[Jerzy Janowicz]] đại diện cho [[Ba Lan]] tham dự [[Hopman Cup]], tại chung kết cô giành chiến thắng trước [[Serena Williams]]<ref>{{chú thích báo |first=Les |last=Roopanarine |title=Serena Williams beaten by Agnieszka Radwanska as Poland win Hopman Cup |work=The Guardian |date=ngày 10 tháng 1 năm 2015 |accessdate=ngày 10 tháng 1 năm 2015 |url=http://www.theguardian.com/sport/2015/jan/10/serena-williams-beaten-agnieszka-radwanska-hopman-cup}}</ref> và trong trận đánh đôi để giành chức vô địch cho đội [[Ba Lan]].
 
Tại [[WTA Final 2015]], Radwanska nằm trong bảng đỏ cùng [[Simona Halep]], [[Maria Sharapova]] và [[Flavia Pennetta]]. Cô đã để thua [[Maria Yuryevna Sharapova|Sharapova]] [[Flavia Pennetta|Pennetta]], nhưng sau đó đã đánh bại Halep để giành quyền lọt vào vòng sau. Tiếp đó cô đánh bại [[Garbiñe Muguruza]] tại bán kết và [[Petra Kvitova]] tại chung kết để giành chức vô địch WTA Final đầu tiên. Cô kết thúc năm 2015 với vị trí thứ 5.
 
== Phong cách thi đấu, trang bị ==
[[Tập tin:Agnieszka Radwanska 2013 Indian Wells.jpg|thumb|left|200px|Radwańska crouching forehand]]
Radwanska là một1 tay vợt có chiến thuật thi đấu, khả năng phòng ngự và phản công tốt ở cuối sân.<ref name="Journal">{{chú thích báo |first=Tom |last=Perrotta |title=The Subtlest Player at Wimbledon |work=[[The Wall Street Journal]] |date=ngày 2 tháng 7 năm 2012 |accessdate=ngày 3 tháng 9 năm 2012 |url=http://online.wsj.com/article/SB10001424052702304211804577502780985880106.html?mod=googlenews_wsj}}</ref> Cô có khả năng di chuyển linh hoạt, chơi bóng bền, xu hướng dự đoán hành vi của đối thủ<ref>{{chú thích báo |title=Agnieszka Radwanska – Victoria Azarenka Live
|publisher=Yahoo.com |accessdate=ngày 22 tháng 1 năm 2014 |url=http://eurosport.yahoo.com/tennis/livematch/671632.html}}</ref><ref>{{chú thích báo |first=Kamakshi |last=Tandon |title=
Plenty to watch in women's semis |work=ESPN |date=ngày 22 tháng 1 năm 2014 |accessdate=ngày 22 tháng 1 năm 2014 |url=http://espn.go.com/tennis/aus14/story/_/id/10332051/australian-open-plenty-variety-women-semifinals}}</ref>
Người dùng vô danh