Khác biệt giữa các bản “Binh chủng Thiết giáp Việt Nam Cộng hòa”

Vào đầu thập niên 70, khi phía đối phương dùng các loại chiến xa T.54 và PT.76 để yểm trợ cho bộ binh. Binh chủng Thiết giáp Việt Nam Cộng hòa được canh tân qua chương trình [[Việt Nam hoá chiến tranh]] và được trang bị loại chiến xa tối tân hạng nặng M.48 ''(hoả lực đại bác 90ly và có gắn máy ngắm hồng ngoại Xenon)'' để tương ứng đối đầu với chiến xa T.54 của Bắc quân. Trong những cuộc hành quân lớn và quy mô như [[vượt biên qua Campuchia]] năm 1970, [[Hạ Lào]] năm 1971 và trận chiến [[Mùa hè đỏ lửa]] năm 1972, các chiến xa của binh chủng Thiết giáp Việt Nam Cộng hòa đã gây cho đối phương sự kinh hoàng và những tổn thất nặng nề.
 
Tính đến năm 1975, lực lượng Thiết giáp Việt Nam Cộng hòa gồm có 1 Bộ chỉ huylệnh tại Trung ương và 4 Bộ tư lệnh Lữ đoàn tại 4 Quân khu, trong đó gồm có: 3 Thiết đoàn chiến xa M.48, 14 Thiết đoàn thiết kỵ M.113 và 6 Thiết đoàn chiến xa M.41 được phối trí đều và thích ứng theo địa hình cho 4 vùng chiến thuật: Vùng 1, 2 và 4, mỗi vùng 5 Thiết đoàn, Vùng 3 có 6 Thiết đoàn. Ngoài ra phối trí cho các Tiểu khu, mỗi Tiểu khu có 1 chi đội thám thính xa loại Commando Car LAV.100 ''(di chuyển bằng bánh hơi, rất cơ động và nhanh lẹ)''. Một Thiết đoànChi đoàn gồm đủ các loại: M.48, M.41, M.113 và V.100, một Chi đoàn để cho khoá sinh tập huấn tại Trường huấn luyện Thiết giáp. Số còn lại thuộc dụng Bộ chỉ huylệnh Thiết giáp Trung ương. Tổng số là 2221 Thiết đoàn.
 
==Bảng phối trí các Lữ đoàn==
78

lần sửa đổi