Khác biệt giữa các bản “Mạc Thiên Tứ”

n
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
Năm [[1747]], giặc biển Đức Bụng vào cướp phá vùng ven biển đạo Long Xuyên ([[Cà Mau]]) cũng bị đội quân của Mạc Thiên Tứ đánh đuổi.
 
Năm [[1756]], quốc vương [[Chân Lạp]] là [[Chey Chettha VII|Nặc Nguyên]] uy hiếp người Côn Man (người [[Chiêm Thành]] di cư sang Chân Lạp), nhưng bị tướng [[Nguyễn Cư Trinh]] đánh bại, phải chạy sang Hà Tiên nương nhờ họ Mạc. Mạc Thiên Tứ dâng thư lên chúa Nguyễn, nói Nặc Nguyên có ý muốn dâng đất Tầm Bôn, Lôi Lạp để chuộc tội. Chúa Nguyễn đồng ý và cho người hộ tống Nặc Nguyên về nước. Hai vùng đất đó trở thành hai phủ [[Gò Công]] và [[Tân An]].
 
Năm [[1757]], Nặc Nguyên mất, chú họ là Nặc Nhuận làm giám quốc, từ lâu có ý muốn làm vua Chân Lạp, liền dâng hai xứ Preah Trapeang và Basac (tức vùng [[Trà Vinh]], [[Ba Thắc]]). Nhưng lúc đó, Nặc Nhuận bị con rể giết chết cướp ngôi. Con trai là [[Outey II|Nặc Tôn]] chạy sang cầu cứu Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ đứng ra sắp xếp, xin chúa Nguyễn cho Nặc Tôn làm vua Chân Lạp. Chúa Nguyễn thuận và sai Mạc Thiên Tứ cùng tướng sĩ năm dinh hộ tống đưa Nặc Tôn về nước. Để tạ ơn, Nặc Tôn dâng Tầm Phong Long (vùng đất giữa [[Sông Tiền]] và [[Sông Hậu]]) cho chúa Nguyễn. Riêng họ Mạc, Nặc Tôn dâng năm phủ Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt và Lình Quỳnh để đền ơn giúp đỡ. Mạc Thiên Tứ đem hết đất ấy dâng cho Chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn cho sảt nhập vào Hà Tiên trấn, giao cho họ Mạc cai quản. Mạc Thiên Tứ chia đất đó thành hai đạo: xứ [[Rạch Giá]] là Kiên Giang đạo, xứ [[Cà Mau]] là Long Xuyên đạo, đặt quan cai trị, chiêu lập dân ấp.<ref>Lược theo ''Nghiên cứu Hà Tiên'', tr. 177.</ref>
 
Ngoài ra, từ [[1775]] đến [[1777]], Mạc Thiên Tứ đã cùng các con là [[Mạc Tử Dung]], Mạc Tử Hoàng, Mạc Tử Thảng (hoặc Thượng) phò tá chúa [[Nguyễn Phúc Thuần]], đóng giữ ở Trấn Giang (nay là [[Cần Thơ]]) và dốc sức phát triển vùng đất này.