Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Nam Trung (Trung Quốc)”

n
sửa chính tả 2, replaced: Ngân Hàng → Ngân hàng (5) using AWB
Không có tóm lược sửa đổi
n (sửa chính tả 2, replaced: Ngân Hàng → Ngân hàng (5) using AWB)
===Các động và núi gồm===
* Dưới quyền ảnh hưởng của Mạnh Hoạch gồm tám vùng Phiên, chín mươi ba điện. Trong đó có ba động thuộc quyền của Mạnh Hoạch (gồm có 3 động chủ) là [[Kim Hoàn Tam Kết]], [[An Hội Nam]] và [[Đổng Trà Na]] trong đó có ''động Ngũ Khê'' nơi đóng quân của Kim Hoàn Tam Kết.
 
* ''Động Đái Lai'' của Đái Lai động chúa, Trưởng bộ Bát Phiên, em của Chúc Dong.
* ''Núi Ngân Hàng'': Là nơi đóng quân của Mạnh Hoạch, ở đó có ba con sông hiểm trở, hai từng ải vững chắc. Ngoài động Ngân Hànghàng có ba con sông, là sông Lư, sông Cam Nam, sông Tây Thành, hợp làm một, gọi là Tam Giang. Mé bắc động hai trăm dặm, địa thế bằng phẳng, nhiều sản vật. Mé tây động hai trăm dặm, có giếng muối, mé tây nam hai trăm dặm, đến thẳng sông Lư, sông Cam. Mé chính nam ba trăm dặm, là động Lương Đô. Trong động có núi diễu quanh, trên núi có mỏ bạc, cho nên gọi là Ngân Hànghàng. Trong núi Ngân Hànghàng có nhiều cung điện, lâu đài, chính là chỗ sào huyệt vua Man Mạnh Hoạch.
 
* ''Động Bát Nạp'' do [[Mộc Lộc Đại vương|Mộc Lộc đại vương]] cai quản ở mé tây nam núi Ngân Hànghàng
* ''Núi Ngân Hàng'': Là nơi đóng quân của Mạnh Hoạch, ở đó có ba con sông hiểm trở, hai từng ải vững chắc. Ngoài động Ngân Hàng có ba con sông, là sông Lư, sông Cam Nam, sông Tây Thành, hợp làm một, gọi là Tam Giang. Mé bắc động hai trăm dặm, địa thế bằng phẳng, nhiều sản vật. Mé tây động hai trăm dặm, có giếng muối, mé tây nam hai trăm dặm, đến thẳng sông Lư, sông Cam. Mé chính nam ba trăm dặm, là động Lương Đô. Trong động có núi diễu quanh, trên núi có mỏ bạc, cho nên gọi là Ngân Hàng. Trong núi Ngân Hàng có nhiều cung điện, lâu đài, chính là chỗ sào huyệt vua Man Mạnh Hoạch.
* ''Nước Ô Qua'': Từ động Ngân Hànghàng ra phía đông nam bảy trăm dặm, có nước Ô Qua do Ngột Đột Cốt làm vua.
 
* ''Động Bát Nạp'' do [[Mộc Lộc Đại vương|Mộc Lộc đại vương]] cai quản ở mé tây nam núi Ngân Hàng
 
* ''Nước Ô Qua'': Từ động Ngân Hàng ra phía đông nam bảy trăm dặm, có nước Ô Qua do Ngột Đột Cốt làm vua.
 
* ''Động Thứu Long'':
: Từ vùng thuộc quyền của Mạnh Hoạch đi về mé tây nam, có một động gọi là động Thứu Long, Chúa động tên là [[Đóa Tư đại vương]]. Ở động này chỉ có hai con đường vào được. Một con đường về mé đông bắc địa thế phẳng phiu, đất lành nước ngọt, người ngựa đi lại dễ dàng. Một con đường ở mé tây bắc, núi non hiểm ác, đường sá hẹp hòi, lại lắm rắn dữ, rết độc, mỗi ngày về buổi chiều, chướng khí bốc lên, đến mãi trưa hôm sau mới tan, chỉ trong giờ thân, giờ dậu mới có thể đi lại được, bốn phía núi cao chót vót, lặng ngắt như tờ, không có tiếng chim chóc gì cả. Nước không uống được, ngựa người khó đi. Có bốn ngọn suối độc:
 
* ''Động Ngân Dã'' với chúa động là [[Dương Phong]]
 
* ''Hang Xà Bàn'': Là một trái núi, trông thấy có cửa hang, vòng vèo như hình con [[rắn]] dài, hai bên vách đá dựng đứng, không có cây cối, núi đá trơ trụi, có một con đường cái đi thông ở giữa ra khỏi cửa hang tức là con đường lớn thành Tam Giang. Trước hang có một thung lũng gọi là điện Tháp Lang. Nơi đây Gia Cát Lượng đã hỏa thiêu quân Ô Qua.
* ''Khe núi Vạn An'': Nơi ẩn giả [[Mạnh Tiết]] cư trú, có nhiều loại thuốc giải độc.
* ''Sông Cam'' và ''sông Tây Thành'', cùng với sông Lư (Lưu Thủy) hợp thành vùng Tam Giang.
* ''Sông Tây Nhĩ Hà'': Ngoài ra ở vùng này có một con sông gọi là Tây Nhĩ Hà, nước chảy tuy không xiết mấy nỗi, nhưng chẳng thấy một chiếc thuyền bè nào đi lại. Khổng Minh từng sai dẫn gỗ đóng bè thả xuống sông, nhưng vừa thả xuống, bè đã chìm, trên thượng lưu sông này, có một trái núi, tre mọc như rừng, có lắm cây to.
 
* ''Sông Đào Hoa'': là con sông mà hai bên bờ toàn là cây đào, lâu ngày lá rụng xuống nước, người nơi khác uống phải thì chết ngay do nước lá [[đào]] rất độc, chỉ có người Ô Qua uống vào lại khỏe thêm ra