Khác biệt giữa các bản “Kinh Xuân Thu”

n (→‎Tham khảo: AlphamaEditor, Excuted time: 00:00:23.1870000)
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
Bởi vì theo truyền thống, cuốn sách này được coi là do [[Khổng Tử]] biên soạn (theo giả thuyết của [[Mạnh Tử]]), nó được đưa vào trong bộ [[Ngũ kinh|Ngũ Kinh]] của văn học Trung Quốc. Tuy nhiên, rất ít học giả hiện đại tin rằng Khổng Tử có nhiều ảnh hưởng trên quá trình trước tác văn bản này mà nó là tác phẩm của nhiều nhà biên niên sử người nước Lỗ.
 
==Nội dung và cáckết tổ chứccấu==
Buổi đầu [[lịch sử Trung Quốc]], "[[Xuân Thu]]" là một từ [[hoán dụ]] thường được dùng để chỉ tổng thể khoảng thời gian trong năm, và nó cũng thường được dùng làm tiêu đề cho những cuốn biên niên sử của nhiều nước chư hầu Trung Quốc giai đoạn đó. Ví dụ, chươngthiên ''Minh Quỷ'' trong cuốn ''[[Mặc Tử]]'' đã đề cập tới nhiều cuốn ''Biên niên sử Xuân Thu'' của [[nhà Chu]], [[yên (nước)|nước Yên]], [[tống (nước)|nước Tống]] và [[tề (nước)|nước Tề]]. Tất cả các văn bản đó hiện đều không còn; chỉ cuốn biên niên sử [[lỗ (nước)|nước Lỗ]] còn tồn tại.
 
Phạm vi sự kiện được ghi chép trong cuốn sách khá hạn chế. Nó tập trung vào các quan hệ ngoại giao giữa các nước chư hầu phong kiến, các liên minh và các hành động quân sự, cũng như những sự kiện sinh tử bên trong gia đình hoàng gia. Cuốn biên niên sử cũng ghi chép về các sự kiện thảm hoạ thiên nhiên như lũ lụt, động đất, nạn châu chấu và nhật thực, bởi vì những sự kiện đó được xem là phản ánh sự ảnh hưởng của trời đối với thế giới loài người.
 
Văn phong ngắn gọn và khách quan, và không giúp ích gì cho việc xác định tác giả chính xác của nó.
 
==Mục đích==
Theo [[Trần Trọng Kim]], Kinh Xuân Thu có ba mục đích là: ''chính danh tự'', ''định danh phận'', ''ngụ bao biếm''<ref>Trần Trọng Kim, ''Nho giáo'', NXB Văn học, 2002, trang 158</ref>:
* '''Chính danh phận''': tôn vua [[nhà Chu]], thể hiện bằng bốn chữ "''Xuân vương chính nguyệt''" (春王正月, nghĩa là mùa xuân, tháng giêng, vua nhà Chu) để tỏ ý vẫn công nhận vua nhà Chu làm chủ thiên hạ<ref>Trần Trọng Kim, ''Nho giáo'', NXB Văn học, 2002, trang 158-159</ref>.
* '''Định danh tự''': dùng chữ để định rõ người tà người chính: vua thiên tử chết chép chữ "''băng''" (崩), vua chư hầu chết chép chữ "''hoăng''" (薨), vua cướp ngôi chết chép chữ "''tồ''" (殂), quan ngay chính chết chép chữ "''tốt''" (卒), quan gian nịnh chết chép chữ "''tử''" (死). Người có danh phận chính đáng thì chép rõ chức phẩm và tên tự, người không có danh phận chính đáng thì chỉ chép tên tục<ref>Trần Trọng Kim, ''Nho giáo'', NXB Văn học, 2002, trang 159</ref>.
* '''Ngụ bao biếm''' (khen chê): sự khen hay chê là chữ dùng: "''Nhất tự chi bao, vinh ư hoa cổn, nhất tự chi biếm, nhục ư phủ việt''" (một chữ khen thì vinh hơn cả áo hoa cổn nhà vua ban cho, một chữ chê thì nhục hơn cả phải tội rìu búa)<ref>Trần Trọng Kim, ''Nho giáo'', NXB Văn học, 2002, trang 159</ref>.
 
==Những lời bình==