Khác biệt giữa các bản “Kế hoạch Marshall”

Không thay đổi kích thước ,  3 năm trước
n
→‎Hiệu quả: sửa chính tả 3, replaced: Châu Phi → châu Phi using AWB
n (sửa chính tả 3, replaced: Châu Âu → châu Âu (12) using AWB)
n (→‎Hiệu quả: sửa chính tả 3, replaced: Châu Phi → châu Phi using AWB)
Kế hoạch Marshall cũng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hòa nhập châu Âu. Cả các nhà lãnh đạo Mỹ và nhiều nhà lãnh đạo châu Âu tin rằng sự hòa nhập là cần thiết để đảm bảo cho hòa bình và phồn vinh của châu Âu, và sử dụng Kế hoạch Marshall như một nguyên tắc chỉ đạo để khuyến khích sự hòa nhập. Trong một chừng mực nào đó, nỗ lực này thất bại, và [[Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế|OEEC]] chưa bao giờ vươn lên ngoài tầm một tổ chức hợp tác kinh tế. Thay vào đó, [[Cộng đồng Than Thép châu Âu]], đáng lưu ý là không bao gồm Anh, lại lớn mạnh để trở thành [[Liên minh châu Âu]]. Tuy nhiên, OEEC đóng vai trò thử nghiệm và chuẩn bị cho cấu trúc và bộ máy quan chức sau này của Tổ chức kinh tế châu Âu EEC. Kế hoạch Marshall, gắn liền với hệ thống tiền tệ mang tên [[Hệ thống Bretton Woods|Bretton Woods]], cũng đảm bảo tự do thương mại trên toàn Âu châu.
 
Trong khi một số sử gia ngày nay cảm thấy việc ca ngợi chương trình này có phần thái quá, thì người ta vẫn nhìn nhận nó một cách tích cực, và nhiều người cho rằng một chương trình tương tự có thể sẽ có ích cho nhiều khu vực khác trên thế giới. Sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, có một số đề nghị về "Kế hoạch Marshall cho Đông Âu" để khôi phục khu vực này. Những người khác thì đề nghị một Kế hoạch Marshall cho Châuchâu Phi, và Phó Tổng thống Mỹ [[Al Gore]] thì đề xuất [[Kế hoạch Marshall toàn cầu]].<ref>Các đề xuất dạng Kế hoạch Marshall cho các khu vực khác của thế giới là một ý tưởng quay đi quay lại nhiều lần. Ví dụ như [[Tony Blair]] và [[Gordon Brown]] đề cập đến mục tiêu giúp đỡ Châu Phi của họ như "một Kế hoạch Marshall."[http://www.guardian.co.uk/g8/story/0,13365,1498591,00.html]. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, nhiều người tin rằng Đông Âu cần một chương trình tái thiết, ví dụ như tại đây [http://www.commentarymagazine.com/Summaries/V89I1P19-1.htm].</ref> Cụ từ "Kế hoạch Marshall" đã trở thành một phép ẩn dụ cho bất kỳ một chương trình tầm cỡ quốc gia nhằm giải quyết một vấn đề xã hội nhất định. Nó thường được sử dụng khi nói việc chính phủ bỏ tiền ra để cứu cho một thất bại trong khu vực tư nhân.
 
Nền kinh tế Tây Đức phục hồi một phần là nhờ vào viện trợ kinh tế từ Kế hoạch Marshall, nhưng phần lớn là nhờ vào cuộc cải cách tiền tệ năm 1948 thay thế đồng Reichsmark bằng đồng [[mác Đức|mark]], chặn đứng nạn [[lạm phát]] leo thang. Hành động củng cố nền kinh tế Đức này vốn bị tuyệt đối ngăn cấm trong khoảng thời gian hai năm mà chỉ thị JCS 1067 (của phe Đồng Minh chiếm đóng Tây Đức) có hiệu lực. Quá trình giải thể công nghiệp than và thép của Tây Đức do phe Đồng Minh thực hiện cuối cùng cũng chấm dứt vào năm 1951. Như vậy, Kế hoạch Marshall chỉ là một trong số nhiều thành tố đằng sau sự phục hồi kinh tế Đức.<ref>[http://www.econlib.org/library/enc/GermanEconomicMiracle.html Henderson]</ref><ref name="autogenerated2">[http://www.germany.info/relaunch/culture/history/marshall.html Stern]</ref> Dù vậy, tại Đức huyền thoại về Kế hoạch Marshall vẫn còn được lưu truyền. Theo cuốn ''Marshall Plan 1947–1997 A German View'' bởi Susan Stern, nhiều người Đức vẫn còn tin là nước Đức là quốc gia duy nhất hưởng lợi từ chương trình này, rằng nó bao gồm những khoản viện trợ cho không gồm những món tiền lớn, rằng chương trình này là chương trình độc nhất mang lại sự phục hồi kinh tế nước Đức trong [[thập niên 1950]].<ref name="autogenerated2"/>