Khác biệt giữa các bản “Hoàn Nhan Doãn Tế”

không có tóm lược sửa đổi
Năm [[1189]], Kim Thế Tông mất, người cháu đích là Cảnh lên kế ngôi, là [[Kim Chương Tông]]. Cùng năm đó ông được đổi phong làm Lộ vương, vì kiêng húy Hiển Tông (Hoàn Nhan) Doãn Cung (bố Chương Tông, anh Doãn Tế) nên ông bị đổi tên thành Vĩnh Tế.
 
Kim Chương Tông hôn dung vô năng, bên trong đam mê nữ sắc, để cho ngoại thích Lý thị kiểm soát hết triều chính, bên ngoài nghi kị tông thần, công thần, trước sau đã giết hại các hoàng thúc Triệu vương Vĩnh Đạo, Trịnh vương Vĩnh Trung. Đến khi Vĩnh Đạo được minh oan thì lại không có người kế tự, nên con trai của Vĩnh Tế được phong làm tự cho TrịnhTriệu vương; đồng thời ông được phong tiết độ sứ ở Vũ Định quân<ref name="KS13" />. Năm thứ 8 (1197), từ Vũ Định quân vào triều yết. Bấy giờ Kim chủ đối với người thân đề phòng rất nghiêm; ngoài việc giết hai vương trước kia thì đối với những người vương gia còn lại trong tông thất cũng bố trí người quan sát, kềm kẹp. Riêng có Vĩnh Tế tuy là em cùng mẹ với Vĩnh Đạo nhưng do nhu nhược vô năng nên Kim chủ không những không ghét bỏ mà còn thương yêu nữa. Bấy giờ hậu cung không sinh được hoàng tử, nhà vua cũng không có ý lập anh hoặc em, mà muốn nhường ngôi cho Vĩnh Tế<ref name="KS13" />.
 
== Lên ngôi vua ==
 
Vào năm 1208, nông lịch ngày 20 thang 11, Kim Chương Tông lâm bệnh mất,nặng do không có con, Vệđể Vươngnối Hoàn Nhan Doãn Tế trở thành hoàng đếdõi. Bấy giờ trong cung có hai phi tử Giả thị, Phạm thị đang mang thai nhưng chưa sanh nở. Nguyên phi Lý thị cùng Hoàng môn thị lang [[Lý Tân Hỉ]] bàn nhau, rồi triệu Bình chương chánh sự [[Hoàn Nhan Khuông]] vào triều, soạn di chiếu lập Vĩnh Tế lên ngôi<ref name="TTTTG158">''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:續資治通鑑/卷158|quyển 158]]</ref>. Ngày [[29 tháng 12]] năm [[1108]]<ref>Academia Sinica - Chuyển hoán Trung Tây lịch</ref>, di chiếu hoàng thúc Vĩnh Tế tức vị hoàng đế. Trong di chiếu còn bảo về việc hai phi tử có mang, nếu như sinh con trai thì hãy lập làm thái tử. Ông lập Nguyên phi Đồ Đan thị làm Hoàng hậu. Vĩnh Tế bàn kế với Bình chương chánh sự [[Bộc Tán Đoan]] nói rằng Giả thị vốn phải sinh vào tháng 11 mà nay đã quá 3 tháng; còn Phạm thị phải sinh vào tháng giêng mà thai khí tổn thương, đến nay ngự y chẩn không thấy thai. Rồi bá cáo trong kinh ngoài trấn rằng Giả thị vốn không mang thai, Phạm thị bị sẩy thai, hai người bị bắt phải làm ni cô<ref name="KS13" /><ref name="TTTTG158" />. Bộc Tán Đoan sau đó được thăng làm Hữu Thừa tướng.
 
Vệ vương Vĩnh Tế lên ngôi hoàng đế, lập Nguyên phi Đồ Đan thị làm Hoàng hậu. Vĩnh Tế bàn kế với Bình chương chánh sự [[Bộc Tán Đoan]] nói rằng Giả thị vốn phải sinh vào tháng 11 mà nay đã quá 3 tháng; còn Phạm thị phải sinh vào tháng giêng mà thai khí tổn thương, đến nay ngự y chẩn không thấy thai. Rồi bá cáo trong kinh ngoài trấn rằng Giả thị vốn không mang thai, Phạm thị bị sẩy thai, hai người bị bắt phải làm ni cô<ref name="KS13" /><ref name="TTTTG158" />. Bộc Tán Đoan sau đó được thăng làm Hữu Thừa tướng.
Mùa hạ năm 1209, Kim chủ hạ chiếu định tội của Nguyên phi Lý thị, là người sủng phi của Chương Tông là cùng với Giả thị mưu giả có mang để chiếm đoạt triều chính, ý đồ xấu xa; rồi buộc Lý thị và Giả thị phải tự tử; anh Lý thị là Hỉ Nhi bị đày đi châu xa. [[Hoàn Nhan Khuông]] tham gia vào việc khép tội Lý thị, được bái Thượng thư lệnh, phong Thân vương<ref name="TTTTG158" />.
 
Mùa hạ năm [[1209]], Kim chủ hạ chiếu định tội của Nguyên phi Lý thị, là người sủng phi của Chương Tông là cùng với Giả thị mưu giả có mang để chiếm đoạt triều chính, ý đồ xấu xa; rồi buộc Lý thị và Giả thị phải tự tử; anh Lý thị là Hỉ Nhi bị đày đi châu xa. [[Hoàn Nhan Khuông]] tham gia vào việc khép tội Lý thị, được bái Thượng thư lệnh, phong Thân vương<ref name="TTTTG158" />.
 
Đầu năm [[1210]], Hoàn Nhan Khuông chết, thăng Hữu Thừa tướng [[Bộc Tán Đoan]] làm Tả Thừa tướng, Ngự sử Trương Hành Giản làm Thái bảo<ref name="KS13" />. Cuối năm [[1211]], Vĩnh Tế lấy Thượng Kinh lưu thủ [[Đồ Đan Dật]] làm Hữu Thừa tướng.
Năm [[1206]], Thủ lĩnh bộ tộc Thát Đát là [[Thiết Mộc Chân]] thống nhất các bộ lạc, lên ngôi Đại Hãn, và có ý định bành trướng khắp Âu - Á. Khi đó Kim chủ Vĩnh Tế gửi thư lên ngôi đến [[Mông Cổ]]. Thiết Mộc Chân biết rõ vua Kim là kẻ vô năng, nên từ đó bỏ không chịu thần phục và nảy sinh ý định phạt Kim.
 
Năm [[Thành Cát Tư Hãn1209]] có ý tấn công nước Kim, đầuMông tiênCổ xuất binh tấn công thần thuộc của Kim là [[Tây Hạ]]. Tây Hạ hướng sang Kim cầu viện song Vệ Thiệu Vương ngồi nhìn không ứng cứu. Tây Hạ sau đó khuất phục Mông Cổ. Năm [[1211]], [[Thành Cát Tư Hãn]] liên kết với người Hạ xuất binh đánh Kim vào năm [[1211]]. Được tin, Kim chủ mệnh [[Chương Độc Cát Thiên Gia Nô]], [[Hồ Sa Hổ|Ngột Thạch Liệt Hồ Sa Hổ]] làm tướng ra Tây Kinh chống giữ, nhưng bị quân Mông đánh cho một trận lớn, phải tháo chạy. Bấy giờ Hồ Sa Hổ tuy là thua trận nhưng không bị trách phạt mà còn được phong Hữu phó soái, Quyền Thượng thư Tả thừa<ref name="KS13" /><ref name="TTTTG159">''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:續資治通鑑/卷159|quyển 159]]</ref>.
 
[[Thành Cát Tư Hãn]] vào Tây Kinh, chia quân đánh chiếm các châu quận. Tháng 8 năm [[1211]], hai quân giao chiến một trận lớn tại Dã Hồ Lĩnh<ref>Tây bắc [[Trương Gia Khẩu]], [[Hà Bắc]], [[Trung Quốc]] hiện nay</ref>. Triều đình [[nhà Kim]] đã học được bài học thất bại trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh là "chia mỏng quân đội để đóng giữ ở các cửa ải, các thành quách", bắt đầu áp dụng chiến lược "tập trung quân số" để đối phó với quân địch. Nhà Kim tập trung 45 vạn quân tinh nhuệ trên cả nước, dàn trận tại Dã Hồ Lãnh, với ý đồ dồn quân đội Mông Cổ vào con đường chết. Thành Cát Tư Hãn đã tiếp nhận kiến nghị của [[Mộc Hoa Lê]], trước tiên dùng đội quân cảm tử để thọc sâu vào Trung quân của Kim, rồi sau đó các cánh quân khác mới mở đường tấn công, tức tập trung 10 vạn quân để đánh thẳng vào một mục tiêu chủ yếu. Hơn nữa, chủ soái của Mông Cổ dù đứng trước mọi tình trạng nguy hiểm vẫn không hốt hoảng, vẫn bình tĩnh chỉ huy. Các tướng sĩ của Mông Cổ dám xông lên chiến đấu. Do vậy, chủ lực của triều đình nhà Kim mới bị đánh bại. Riêng quân Kim tiếp ứng chưa đánh đã bỏ chạy trước. Xác chết của quân Kim đã nằm rải rác trên một diện tích rộng hằng trăm dặm. Tiếp đó, quân Mông Cổ hạ Bắc, Tây, Đông ba kinh, chiếm hơn 90 thành trì của nước Kim. Nước Kim ngày càng nguy cấp.
 
Tin thất bại khiến cả triều đình nhà Kim bàng hoàng. Kim chủ phải cho bãi chức của [[Bộc Tán Đoan]]. Vào tháng 9, quân Mông Cổ tiến đến gần Trung Đô. Kim chủ thất kinh, muốn bỏ Yến Kinh chạy về Biện Kinh nhưng quân Kim liều sức chiến đấu, cộng thêm thành phòng vệ kiên cố và có trọng binh phòng thủ nên tạm đánh lui được quân Mông. Tháng 7 năm [[1213]], [[Thành Cát Tư Hãn]] tập trung đại quân từ Dã Cô Lãnh tấn công và đập tan 30 vạn quân Kim ở Cối Hà Bảo<ref>Phía nam Vạn Toàn, [[Hà Bắc]], [[Trung Quốc]] hiện nay</ref>, rồi tiến thẳng tới Cư Dung Quan, bao vây Tây Kinh. Cùng năm, một người Kim tên là [[Da Luật Lưu Ca (nhà Nguyên)|Da Luật Lưu Ca]] tại tỉnh Cát Lâm đã khởi binh phản Kim, trong vài tháng đã phát triển đến trên mười vạn người. [[Da Luật Lưu Ca]] dựa vào [[Mông Cổ]], tại phụ cận [[Xương Đồ]], [[Liêu Ninh]] ngày nay đã dánh bại 60 vạn quân Kim. Tình hình Kim trở nên xấu đi.
 
== Cái chết ==
Vệ Thiệu Vương đối đãi do dự, không có tài an bang trị quốc, chỉ biết thủ thành. Ông không khéo dùng người, không phân biệt trung gian, cuối cùng dẫn đến đại họa sát thân.
 
Hồ Sa Hổ đã từng bị Kim chủ bãi chức nên sinh ra oán hận, mưu đồ thoán nghịch. Mùa hạ năm 1213, ông ta được phong làm Hữu phó nguyên soái, nắm 5000 Vũ Vệ quân đồn trú ở phía bắc Trung Đô. Hồ Sa Hổ sau đó cho giết sứ giả của nhà vua, rồi cùng đồ đảng [[Hoàn Nhan Sửu Nô]] nói thác là vâng chiếu đi đánh Tri Đại Hưng phủ Đồ Đan Nam Bình làm phản rồi đưa quân vào Yến Kinh, hạ trại ở cửa Quảng Dương<ref name="KS13" /><ref name="TTTTG160">''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:續資治通鑑/卷160|quyển 160]]</ref><ref>''[[Kim sử]]'', quyển 70</ref>. Sau đó [[Hồ Sa Hổ]] giết chết [[Đồ Đan Nam Nình]], đến cửa Đông Hoa; được hộ vệ Tà Liệt, Hòa Nhĩ đưa vào cung, xưng làm Giảm quốc Đô nguyên soái, ép Vĩnh Tế ra khỏi cung, cho 200 quân canh giữa. Lại sai viên Hoàng môn đến chỗ Tả phu nhân Trịnh thị để lấy ngọc tỉ<ref name="TTTTG160" />. Trịnh thị nhất định không đưa nói
:''Ngọc tỉ là đồ của thiên tử. Hồ Sa Hổ chỉ là thần tử, sao dám lấy đi? Còn mày là cận vệ được vương ân sâu nặng, lúc chủ gặp nạn sao không tận trung mà lại hùa với giặc lấy ngọc tỉ. Đầu tao mấy được nhưng ngọc tỉ thì không?''
 
=== Con cái ===
* Lương Vương [[Hoàn Nhan Tùng Khắc]]
* [[Hoàn Nhan Cư]]
* [[Hoàn Nhan Tuyên]]
* [[Hoàn Nhan Tảo]]
* [[Kì Quốc Công chúa]] (Mẫu Viên thị), gả cho [[Thành Cát Tư Hãn]]
 
== Tham khảo ==
}}
{{Các chủ đề|Lịch sử|Trung Quốc}}
{{sơ khai lịch sử}}
 
{{thời gian sống|sinh=1168|mất=1213}}