Khác biệt giữa các bản “Lỗ Tấn”

Lỗ Tấn tên khai sinh là Chu Chương Thọ, sau đổi tên là '''Chu Thụ Nhân''' (chữ Hán phồn thể: 周樹人, chữ Hán giản thể: 周树人; bính âm: Zhōu Shùrén), hiệu Dự Tài, bút danh Lỗ Tấn, sinh ngày [[25 tháng 9]] năm [[1881]] tại huyện [[Thiệu Hưng]], tỉnh [[Chiết Giang]] trong một gia đình quan lại đã sa sút.
 
Cha của ông là Chu Bá Nghi đỗ tú tài nhưng không được ra làm quan, bị bệnh mất sớm. Mẹ của ông là Lỗ Thụy. Bà đã sớm có ảnh hưởng đến khả năng văn chương của Lỗ Tấn qua việc bà kể cho ông nghe nhiều truyện cổ dân gian. Lỗ Tấn là bút danh ông lấy từ họ mẹ "Lỗ". Thuở nhỏ ông thường đi học muộn, ông đã tự tay cầm dao thích chữ Tấn (tấn hành-đi nhanh lên) trên mặt bàn học để nhắc nhở bản thân phải nhanh nhẹn khẩn trương. Chính vì vậy sau này khi viết văn ông đã lấy bút danh là Lỗ Tấn.
 
Năm 1899, ông đến [[Nam Kinh]] theo học ở Thủy sư học đường (trường đào tạo nhân viên hàng hải). Hai năm sau, ông thi vào trường Khoáng lộ học đường (đào tạo kỹ sư mỏ địa chất). Năm 1902, Lỗ Tấn du học [[Nhật Bản]], tại đây ông tham gia [[Quang Phục hội]], một tổ chức yêu nước của [[người Hoa|người Trung Quốc]].