Khác biệt giữa các bản “Boeing B-17 Flying Fortress”

n
sửa chính tả 3, replaced: Quốc Xã → Quốc xã (4), Châu Âu → châu Âu (2) using AWB
n (sửa chính tả 3, replaced: Châu Âu → châu Âu (6) using AWB)
n (sửa chính tả 3, replaced: Quốc Xã → Quốc xã (4), Châu Âu → châu Âu (2) using AWB)
'''[[Boeing]] B-17 Flying Fortress''' (''Pháo đài bay B-17'') là kiểu [[máy bay ném bom hạng nặng]] 4 động cơ được phát triển cho [[Không lực Lục quân Hoa Kỳ]] (USAAC) và được đưa vào sử dụng vào cuối những năm [[thập niên 1930|1930]]. Cạnh tranh cùng với [[Douglas Aircraft Company|Douglas]] và [[Glenn L. Martin Company|Martin]] trong một hợp đồng chế tạo 200 máy bay ném bom, thiết kế của hãng Boeing vượt trội hơn cả hai đối thủ và vượt xa những yêu cầu của Không lực. Cho dù Boeing bị mất hợp đồng do máy bay nguyên mẫu bị rơi, Không lực Mỹ vẫn bị ấn tượng bởi thiết kế của Boeing và đặt hàng 13 chiếc B-17. B-17 Flying Fortress tiếp tục được đưa vào sản xuất và được xem là chiếc máy bay lớn đầu tiên sản xuất hàng loạt, lần lượt trải qua nhiều phiên bản cải tiến từ B-17A đến B-17G.
 
B-17 được Không lực Mỹ sử dụng chủ yếu trong các chiến dịch [[ném bom chiến lược]] chính xác ban ngày vào các mục tiêu công nghiệp, quân sự và dân sự của [[Đức Quốc |Đức]] trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Thế Chiến II]]. Các đơn vị Mỹ là [[Không Lực 8]] đóng tại [[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|Anh]] và [[Không Lực 15]] đóng tại [[Ý]] góp phần bổ sung cho nhiệm vụ ném bom khu vực ban đêm của [[Bộ chỉ huy Không quân Ném bom]] thuộc [[Không quân Hoàng gia Anh]] trong [[chiến dịch Pointblank]], giúp đạt được ưu thế trên không trên các thành phố, nhà máy và chiến trường Tây Âu chuẩn bị cho [[Trận Normandie|Trận chiến Normandy]].<ref name="Carey Pointblank">{{chú thích tạp chí | last =Carey | first =Brian Todd | title =Operation Pointblank: Evolution of Allied Air Doctrine During World War II | journal =World War II | volume = | issue = tháng 11 | pages = trang 4 | publisher =|date =1998|url =http://www.historynet.com/air_sea/airborne_operations/3026416.html?page=4&c=y |accessdate =15 tháng 1 năm 2007}}</ref> B-17 cũng tham gia, với quy mô hạn chế hơn, tại [[Chiến tranh Thái Bình Dương|Mặt trận Thái Bình Dương]], không kích vào tàu bè và sân bay Nhật Bản.
 
Ngay từ trước chiến tranh, Không lực Mỹ (sau này là Không quân Hoa Kỳ) đã xem máy bay này là vũ khí chiến lược quan trọng có uy lực lớn, bay cao, ném bom tầm xa, có sức phá hủy lớn trong khi có khả năng tự phòng thủ, và nhất là khả năng quay về sân bay nhà cho dù hư hại nặng trong chiến đấu. Độ bền của nó, nhất là đáp bằng bụng và đáp trên mặt nước, nhanh chóng lan truyền như một huyền thoại.<ref name="Manual">{{chú thích sách |title= B-17 Pilot Training Manual |origdate= |url= http://www.stelzriede.com/ms/html/mshwpmn1.htm |accessdate= 16 tháng 1 năm 2007|edition= |date= |publisher= Headquarters, AAF, Office of Flying Safety |location= |isbn= |chapter= The Story of the B-17 |chapterurl= http://www.stelzriede.com/ms/html/mshwpmn1.htm#sty |quote= Khả năng phi thường của B-17 để chịu đựng — có thể quay về sân bay nhà với ba, hai, thậm chí một động cơ, bị bắn thủng lỗ chỗ bởi pháo phòng không và lỗ đạn, với những mảng lớn cánh và đuôi bị bắn rời — được công bố rộng rãi đến mức quân nhân Mỹ có thể [http://www.stelzriede.com/ms/photos/joke2.jpg khôi hài về nó]. Flying Fortress là một [http://www.stelzriede.com/ms/photos/joke.jpg một máy bay chắc chắn]}}</ref><ref name="browne">{{chú thích tạp chí | last =Browne | first = Robert W. | date = Winter 2001 | year = | title = The Rugged Fortress: Life-Saving B-17 Remembered | journal = Flight Journal: WW II Bombers | volume = | issue = Winter 2001| url = http://www.rccaraction.com/fj/articles/b-17/fortress_1.asp | accessdate =18 tháng 12 năm 2006}}</ref><ref name="Eaker">{{chú thích web
 
== Lịch sử hoạt động ==
[[Tập tin:Large formation of Boeing B-17Fs of the 92nd Bomb Group.jpg|phải|nhỏ|Một đội hình lớn những chiếc B-17F thuộc Liên đội Ném bom 92 bên trên bầu trời Châuchâu Âu.]]
 
B-17 bắt đầu hoạt động trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Thế Chiến II]] với [[Không quân Hoàng gia Anh]] từ năm [[Hàng không năm 1941|1941]], các đơn vị [[Không lực 8]] và [[Không lực 15]] của Không lực Lục quân Hoa Kỳ từ năm [[Hàng không năm 1942|1942]], và được dùng chủ yếu trong các chiến dịch [[ném bom chiến lược]] chính xác ban ngày các mục tiêu công nghiệp của [[Đức]]. [[Chiến dịch Pointblank]] (Điểm trắng) là những trận tấn công có định hướng chuẩn bị cho tấn công trên bộ.<ref name="Carey Pointblank"/>
[[Tập tin:B-17F Radar Bombing over Germany 1943.jpg|trái|nhỏ|Những chiếc B-17F ném bom xuyên qua mây nhờ hướng dẫn bằng [[ra đa|radar]] tại [[Bremen]], Đức, 13 tháng 11 năm 1943.]]
 
Hai chiến lược khác nhau của Bộ chỉ huy ném bom Hoa Kỳ và Anh Quốc được tổ chức lại tại [[Hội nghị Casablanca]] vào [[tháng một|tháng 1]] năm [[Hàng không năm 1943|1943]]. Kết quả là [[Chiến dịch Pointblank]] được vạch ra nhằm một chiến lược "Phối hợp tấn công ném bom" nhằm làm suy yếu [[Quân đội Đức|quân đội]] [[Đức Quốc ]] và chiếm được ưu thế trên không nhằm chuẩn bị cho việc tấn công trên bộ.<ref name="Carey Pointblank"/> Chiến dịch Pointblank mở đầu bằng các cuộc tấn công các mục tiêu tại Tây Âu. Tướng [[Ira C. Eaker]] và Không lực 8 đặt ưu tiên cao nhất trong việc tấn công vào công nghiệp hàng không Đức, đặc biệt là các nhà máy lắp ráp máy bay tiêm kích, chế tạo động cơ và chế tạo vòng bi.<ref name="Carey Pointblank"/>
 
Ngày [[17 tháng 5]] năm [[Hàng không năm 1943|1943]], một cuộc tấn công vào nhà máy của [[Focke-Wulf]] tại [[Bremen]] thực hiện bởi 115 chiếc Fortress mang lại ít kết quả, 16 chiếc bị bắn rơi và 48 chiếc khác bị hư hại.<ref name="Fortress over Europe">{{chú thích web |last = Goebel |first =Greg |url= http://www.vectorsite.net/avb17_2.html |title= Fortress Over Europe |year =2005 |accessdate=9 tháng 1 năm |format= |work= The Boeing B-17 Flying Fortress|quote=}}</ref> Tuy nhiên cuộc tấn công cũng mang lại hiệu quả là khoảng phân nửa lực lượng tiêm kích trong Không quân Đức bị buộc phải chuyển sang nhiệm vụ chống máy bay ném bom.
[[Tập tin:Civil operators of the B-17.png|nhỏ|phải|400px|Các nước sử dụng B-17 dân sự]]
{{chính|Danh sách các đơn vị sử dụng B-17 Flying Fortress}}
Chiếc B-17 là một máy bay linh hoạt, hoạt động trong nhiều đơn vị Không lực Mỹ tại nhiều chiến trường trong suốt Thế Chiến II, và trong những vai trò không ném bom trong Không quân Hoàng gia Anh. Nó được sử dụng chủ yếu tại [[Mặt trận Châuchâu Âu]], nơi mà tầm bay ngắn hơn và tải trọng bom ít hơn so với các máy bay khác không ảnh hưởng nhiều như tại [[Chiến tranh Thái Bình Dương|Mặt trận Thái Bình Dương]]. Số lượng máy bay phục vụ cho Không lực Mỹ vào lúc cao điểm ([[tháng tám|tháng 8]] năm [[Hàng không năm 1944|1944]]) là 4.574 chiếc trên khắp thế giới.<ref name="Baugher Squads"/>
 
* {{ARG}}
* {{DOM}}
* {{FRA}}
* {{flag|Đức Quốc }}
* {{flag|Iran|1925}}
* {{ISR}}
=== Các thành tích và sự kiện quân sự ===
* [[Allison Brooks|Allison C. Brooks]] (1917–2006): Được tặng thưởng nhiều huân chương quân sự, và cuối cùng được thăng đến cấp bậc Thiếu tướng, phục vụ trong quân đội thường trực cho đến năm [[1971]].
* Đại úy [[Werner G. Goering]]: Người Mỹ gốc Đức sinh trưởng tại Hoa Kỳ, cháu của Tư lệnh [[Không quân Đức|Không quân]] [[Đức Quốc ]] trong Thế Chiến II [[Hermann Göring]].<ref>{{chú thích web| url = http://www.303rdbg.com/358goering.html| title = Werner G. Goering Crew&nbsp;– 358th BS |accessdate=20 tháng 12 năm 2006| last = Gobrecht | first = Harry D. | year = 2006 | work = Hell's Angels: Home of the 303rd Bomb Group (H) Association | quote = }}</ref>
* [[Immanuel J. Klette]] (1918–1988): Người Mỹ gốc Đức thế hệ thứ hai, tham gia 91 phi vụ chiến đấu, đứng đầu số phi vụ mà một phi công Không lực 8 từng thực hiện trong Thế Chiến II.<ref>Freeman 1993, trang 497–500.</ref>
* [[Colin Kelly]] (1915–1941): Phi công B-17 Hoa Kỳ đầu tiên bị mất trong chiến đấu.<ref>Frisbee, John L. "Valor: Colin Kelly (He was a Hero in Legend and in Fact)." ''Air Force Magazine'' Tập 77, Số 6, tháng 6 năm 1994.</ref>