Khác biệt giữa các bản “Ngân hàng Anh”

n
sửa chính tả 3, replaced: Quốc Xã → Quốc xã using AWB
n (→‎Tham khảo: AlphamaEditor, thêm thể loại, Excuted time: 00:00:27.2607258)
n (sửa chính tả 3, replaced: Quốc Xã → Quốc xã using AWB)
 
* Ổn định [[tiền tệ]]: duy trì giá cả ổn định và lòng tin vào [[bảng Anh|đồng bảng Anh]]. Giá cả ổn định được duy trì tuân thủ mục tiêu lạm phát của Chính phủ. Ngân hàng thực hiện chức năng này thông qua tỷ lệ lãi suất được ấn định bởi ''Ủy ban Chính sách tiền tệ''.
 
* Ổn định tài chính: duy trì sự ổn định tài chính trước các nguy cơ đe dọa hệ thống tài chính. Những nguy cơ này được phát hiện bằng quan sát, theo dõi. Các nguy cơ phát sinh sẽ được ngăn chặn bằng các hành động tài chính và các biện pháp khác ở trong nước và ngoài nước. Trong những trường hợp hãn hữu, '''Ngân hàng Anh''' là ngân hàng cung cấp tín dụng cuối cùng.
 
 
* '''Ngân khố Chính phủ''' (Her Majesty’s Treasury), cơ quan của Chính phủ Anh chịu trách nhiệm về chính sách kinh tế và tài chính
 
* '''Cơ quan quản lý dịch vụ tài chính''' (Financial Services Authority – FSA), tổ chức độc lập quản lý lĩnh vực dịch vụ tài chính.
 
* Các [[ngân hàng trung ương]] và các tổ chức quốc tế khác với mức đích cải thiện hệ thống tài chính quốc tế.
 
Năm 1997, '''Ủy ban Chính sách tiền tệ''' được thành lập để ấn định lãi suất, phục vụ chỉ tiêu [[lạm phát]] 2,5% của [[chính phủ]]. Quyết định này là của Bộ trưởng Tài chính Gordon Brown có hỏi ý kiến của [[Tony Blair]] trước cuộc bầu cử 1997, dù vậy thông báo thành lập chỉ được đưa ra sau cuộc bầu cử. Nếu mức [[lạm phát]] dao động vượt ngoài 1% biên, Thống đốc phải viết thư giải trình với Bộ trưởng Tài chính và đệ trình biện pháp điều chỉnh. Điều này được coi là một thay đổi tích cực bởi những lý do sau:
* từ bỏ vai trò của [[chính phủ]] vốn gây tranh cãi trong thực hiện chính sách lạm phát
 
* khẳng định với giới tài chính mong muốn của [[chính phủ]] về một nền kinh tế mạnh mẽ
 
* các học thuyết kinh tế học về "sự không nhất quán" phát triển bởi hai nhà kinh tế học [[giải Nobel]] Edward C. Prescott và Finn E. Kydland cùng thống kê ở [[New Zealand]] và một số nước khác cho thấy rằng [[ngân hàng trung ương]] độc lập có thể thành công hơn trong việc giảm [[lạm phát]] mà không gia tăng [[thất nghiệp]].
 
Ngân hàng Anh bắt đầu phát hành giấy bạc (tiền giấy) từ năm 1694. Những tờ bạc thời đó được viết tay, dù từ năm 1725 chúng được in nhưng các nhân viên xuất quỹ vẫn phải ký lên mỗi tờ bạc để cho chúng khả năng thanh toán. Các tờ bạc được in cùng chữ ký của trưởng quỹ từ năm 1855. Tới năm 1928, chúng vẫn là "Tiền giấy trắng" (White Notes), tức là chỉ được in đen trắng một mặt và mặt kia để trắng. Trong thế kỷ 20, "Tiền giấy trắng" được phát hành với mệnh giá từ £5 đến £1.000; thế kỷ 18 và 19, có cả "Tiền giấy trắng" £1 và £2. Ngân khố chính phủ Anh (Treasury) đã phát hành những tờ tiền 10 shilling và £1 chỉ vài ngày sau khi nổ ra [[Chiến tranh thế giới thứ nhất|Thế chiến thứ nhất]] với mục đích rút tiền xu bằng [[vàng]] ra khỏi lưu thông tiền tệ. Đến ngày 22/11/1928, Ngân hàng Anh tiếp quản chức năng phát hành loại giấy bạc này.
 
Trong [[chiến tranh thế giới thứ hai|thế chiến thứ hai]], nước [[Đức Quốc |Đức]] làm giả những tờ bạc mệnh giá từ £5 đến £50, lên đến 500 ngàn tờ tiền mỗi tháng trong năm 1943. Kế hoạch ban đầu là thả những tờ tiền giả này xuống nước Anh với mục đích làm mất ổn định kinh tế Anh, tuy vậy việc này không hiệu quả bằng sử dụng tiền giả chi trả cho mật vụ Đức trên toàn [[Châu Âu]]. Mặc dù phần lớn số tiền này rơi vào tay [[khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|phe đồng minh]] sau chiến tranh nhưng tiền giả vẫn xuất hiện nhiều năm sau đó. Những tờ tiền mệnh giá trên £5 sau đó buộc phải rút ra khỏi lưu thông.
 
Tất cả giấy bạc cũ của Ngân hàng Anh vẫn được đổi sang giấy bạc lưu hành ngày nay. Những tờ giấy bạc giả được thu lại và tiêu hủy, Ngân hàng không khuyến khích việc gửi tiền giấy đến để kiểm tra tính thật giả, tuy nhiên nếu tờ tiền là giả, khoản hoàn lại sẽ được trả bằng séc. Lưu thông tiền giả là tội hình sự.