Khác biệt giữa các bản “Nhà Minh”

 
Nhiều người cho rằng Minh Thái Tổ muốn tập trung quyền lực tuyệt đối trong tay mình. Loại bỏ chức vụ [[Tể tướng]] và như vậy cũng loại bỏ luôn sự chống đối có thể có đối với các ông vua bất tài. Tuy nhiên vị trí tể tướng lại được thay thế bởi một chức vụ khác được gọi là [[Đại học sĩ]]. Ray Huong - giáo sư State University - cho rằng bề ngoài các đại học sĩ dường như không quyền hành gì nhưng thực tế nắm nhiều ảnh hưởng phía sau ngai vàng bởi uy tín và sự tin tưởng của dân chúng dành cho họ. Các đại học sĩ có thể đóng vai trò trung gian giữa hoàng đế và quan lại và như vậy có thể làm cân bằng và ổn định các lực lượng trong triều đình.
 
== Suy tàn ==
[[Tập tin:Yongle-Emperor1.jpg|phải|nhỏ|200px|Chân dung hoàng đế Vĩnh Lạc, tức [[Minh Thành Tổ]] (1402 - 1424)]]
[[Minh Thành Tổ|Thành Tổ]] Chu Đệ, niên hiệu Vĩnh Lạc, là một người mạnh mẽ nên ông có khả năng tiếp nối chính sách ngoại giao của vua cha. Năm 1407, Thành Tổ cho quân xâm lược [[Đại Ngu]], mở đầu thời kỷ [[Bắc thuộc lần 4|Bắc thuộc lần thứ tư]] trong [[lịch sử Việt Nam]]. Đến năm 1428, quân Minh bị đánh đuổi, ngân khố nhà Minh gặp không ít mất mát; năm 1431 triều đại [[nhà Lê sơ|nhà Lê]] của [[Đại Việt]] được công nhận là một quốc gia triều cống độc lập.<ref name="fairbank goldman 2006 138">Fairbank & Goldman (2006), 138.</ref>
 
Tuy nhiên, những người kế tục Thành Tổ không có nhiều ảnh hưởng trên những công việc đối ngoại, điều này khiến Quân đội Đế quốc giảm sút nhiều sức mạnh. Nếu như ở phía nam người Việt giành lại độc lập năm 1427, thì ở phía bắc người Mông Cổ nhanh chóng tìm lại sức mạnh của mình. Bắt đầu từ khoảng năm 1445, người Ngõa Thích (Oirat) với vị thủ lĩnh mới của họ là Dã Tiên (Esen Taiji), đã trở thành một mối đe dọa quân sự đối với Trung Quốc.
 
[[Minh Anh Tông]] (Chu Kỳ Trấn), do sự chi phối của thái giám [[Vương Chấn]], đã đích thân chỉ huy một chiến dịch tấn công người Oirat vào năm Chính Thống thứ 14 (1449), nhưng chiến dịch này lại trở thành một thảm họa cho Trung Quốc khi quân đội của họ bị tiêu diệt còn nhà vua bị bắt sống. Sau này ở thời Gia Tĩnh, đến lượt thủ đô của đế quốc rơi vào tay người Mông Cổ.
 
Cùng lúc ấy, những tên cướp biển Nhật Bản tiến hành những cuộc cướp bóc dọc bờ biển - những vùng bờ biển này rộng lớn tới mức nó hầu như không thể được bảo vệ bởi quân đội triều đình. Sau đó, người Nhật dưới sự lãnh đạo của [[Toyotomi Hideyoshi]] bắt đầu lập kế hoạch chinh phục Triều Tiên và Trung Quốc. Tuy đánh bại được quân Nhật nhưng nhà Minh phải chịu những tổn thất lớn về tài chính. Tới những năm 1610, nhà Minh trên thực tế đã mất quyền kiểm soát vùng đông bắc Trung Quốc. Một bộ lạc hậu duệ của [[nhà Kim]] trước kia nhanh chóng mở rộng lãnh thổ về phía nam tới tận [[Sơn Hải Quan]], tức là ngay đối diện [[Vạn Lý Trường Thành]].
 
Sự suy tàn của nhà Minh trở nên rõ rệt hơn ở nửa sau giai đoạn cai trị của họ. Đa phần các vua nhà Minh không quan tâm tới triều chính và quyền lực tối cao có lúc rơi vào tay của những quan lại trong triều, có lúc lại rơi vào tay các hoạn quan. Thêm vào đó, những cuộc xung đột nội bộ giữa các quan lại trong triều càng khiến cho giới hoạn quan có cơ hội lũng đoạn triều đình. Những vụ việc như vậy xảy ra thường xuyên cho tới tận khi nhà Minh chấm dứt.
 
Các nhà sử học còn tranh cãi về sự "tiến bộ" khá chậm chạp của chủ nghĩa trọng thương và công nghiệp hoá theo kiểu châu Âu từ thời nhà Minh. Vấn đề này đặc biệt đáng quan tâm, nếu ta thấy sự tương đương giữa mức độ thương mại hóa của kinh tế nhà Minh, ở thời được gọi là "tư bản phôi thai" ở Trung Quốc, với chủ nghĩa tư bản thương nghiệp ở phương Tây. Vì thế, các nhà sử học đã tìm cách giải thích tại sao Trung Quốc không "tiến bộ" ở mức tương đương trong thế kỷ cuối cùng của nhà Minh. Tuy nhiên, ở thời điểm đầu thế kỷ 21, một số giả thuyết dẫn tới cuộc tranh luận đã bị phản bác. Các nhà sử học kinh tế như Kenneth Pomeranz đã bắt đầu đưa ra lý lẽ cho rằng về mặt kỹ thuật và kinh tế Trung Quốc tương đương với châu Âu cho tới tận năm 1750 và rằng sự khác biệt xảy ra là vì những nguyên nhân toàn cầu như khả năng tiếp cận tới các nguồn tài nguyên thiên nhiên từ thế giới mới.
 
Dù sao, đa số tranh luận tập trung vào sự đối nghịch về chính trị và các hệ thống kinh tế giữa [[phương Đông|Đông]] và [[phương Tây|Tây]]. Cho rằng giả thuyết gây ra điều đó là những sự chuyển đổi kinh tế, gồm cả những thay đổi xã hội, và chúng lại dẫn tới những hậu quả về chính trị, thì ta có thể hiểu tại sao sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản, một hệ thống kinh tế trong đó vốn được đưa vào sản xuất để tạo ra nhiều vốn hơn, là một cái gì đó tương tự lực đẩy tạo nên sự trỗi dậy của châu Âu hiện đại. Dù thế nào chăng nữa, ta có thể tìm thấy những dấu vết Chủ nghĩa tư bản ở nhiều giai đoạn khác nhau trong lịch sử phương Tây. Chủ nghĩa tư bản thương mại là giai đoạn đầu tiên và rõ ràng liên kết với các khuynh hướng lịch sử ở Trung Quốc thời nhà Minh, như các khám phá địa lý, thuộc địa hoá, phát minh khoa học, và sự tăng trưởng trong thương mại giữa các nước. Nhưng ở [[châu Âu]], các triều đình thường bảo vệ và khuyến khích tầng lớp giàu có [[tư bản]], đa phần là thương nhân, thông qua các chính sách nhà nước, các khoản trợ cấp, và những điều khoản độc quyền như [[Công ty Đông Ấn Anh]]. Các nước theo chế độ [[quân chủ chuyên chế]] ở thời kỳ này thường coi những khoản lợi nhuận tiềm năng mà các nhà buôn thu được là nhân tố hỗ trợ cho sự mở rộng và tập trung hóa quốc gia của họ.
 
Vấn đề này thậm chí còn bất thường hơn nếu ta cho rằng trong thế kỷ cuối cùng của nhà Minh, một nền kinh tế tiền tệ đích thực đã xuất hiện cùng với những thương vụ ở mức độ lớn cũng như những cơ sở công nghiệp tư nhân và nhà nước, ví dụ như những trung tâm dệt may lớn ở phía đông nam. Ở một số khía cạnh, vấn đề này là trung tâm trong những cuộc tranh luận về sự suy tàn của Trung Quốc so với phương Tây hiện đại ít nhất cho đến thời [[cách mạng vô sản]]. Các nhà sử học [[Chủ nghĩa Marx|Marxist]] ở Trung Quốc, đặc biệt ở [[thập niên 1970]] coi thời Minh là một trong những giai đoạn "tư bản sơ khai", một sự miêu tả có vẻ khá chính xác, nhưng không giải thích được sự suy tàn của thương mại và sự tăng cường các biện pháp quản lý thắt chặt thương mại thời nhà Minh. Vì vậy, các nhà sử học Marxist mặc nhiên cho rằng chủ nghĩa trọng thương kiểu châu Âu và công nghiệp hóa có thể đã phát triển và nó không liên quan gì tới cuộc chinh phục của [[người Mãn Châu]], sự mở rộng [[chủ nghĩa thực dân]] [[phương Tây]], đặc biệt sau thời của những cuộc [[chiến tranh Nha phiến]].
 
Tuy nhiên các học giả hậu hiện đại ở Trung Quốc đã cho rằng quan điểm này là quá đơn giản hóa và ít nhất cũng không chính xác. Việc ngăn cấm các tàu đi biển, như được chỉ ra, là với ý định kìm chế cướp biển và đã được dỡ bỏ ở giữa thời Minh dưới sức ép mạnh mẽ của tầng lớp quan lại, những người đã chỉ ra những ảnh hưởng xấu của nó tới các vùng kinh tế ven biển. Các nhà sử học đó, gồm Jonathan Spence, Kenneth Pomeranz, và Joanna Waley-Cohen phủ nhận việc Trung Quốc đã hoàn toàn "đóng cửa với bên ngoài" và cho rằng quan điểm đó về nhà Minh là mâu thuẫn với khối lượng tăng trưởng của thương mại và mậu dịch giữa Trung Quốc và Đông Nam Á. Khi người Bồ Đào Nha tới Ấn Độ, họ chứng kiến một mạng lưới thương mại đang phát triển mạnh mẽ và sau đó họ đã theo nó để tới Trung Quốc. Trong [[thế kỷ 16]] những người [[châu Âu]] bắt đầu xuất hiện trên những bờ biển phía đông và tìm ra [[Ma Cao|Macao]], vùng định cư đầu tiên của người phương Tây ở [[Trung Quốc]]. Như đã được ghi chép, từ thời Minh Thái Tổ, vai trò của hoàng đế đã trở nên độc đoán hơn, dù Thái Tổ cần tiếp tục sử dụng cái gọi là Đại học sĩ để hỗ trợ ông trong hàng núi giấy tờ công việc hành chính, gồm cả các bản ghi nhớ (đơn thỉnh nguyện và thư tiến cử tới triều đình), các chỉ dụ trả lời, các báo cáo đủ thể loại, và các bản ghi chép về thuế.
 
Không như các vị vua sau này, Minh Thái Tổ hiểu rõ vai trò tiêu cực của các [[hoạn quan]] triều đình như thời [[nhà Tống|Tống]], đã giảm bớt nhiều số lượng của họ, cấm họ tiếp cận với các giấy tờ, nhấn mạnh rằng cần phải để họ mù chữ và hành quyết những kẻ dám bàn tới công việc quốc gia. Dù Thái Tổ có ác cảm lớn với hoạn quan, thậm chí một văn bản tóm lược trong cung của ông đã quy định rằng: "Các hoạn quan không được tham gia chính sự", các hoàng đế về sau này lại khôi phục vai trò của họ trong công việc triều đình.
 
Minh Thành Tổ cũng là người ham hoạt động và rất có khả năng trong vai trò nhà cai trị, nhưng một sự sắp đặt những kẻ thừa kế kém cỏi đã được đặt ra. Đầu tiên, dù thời Thái Tổ vẫn giữ một số thói quen Mông Cổ, như trừng phạt thể xác, điều này đã là một sự quá đáng đối với tầng lớp nho sĩ vốn quen với khái niệm cai trị bằng đạo đức ("đức trị"), thời Thành Tổ còn vượt quá các giới hạn đó, hành quyết các gia đình đối thủ chính trị của mình, giết hại tùy tiện hàng nghìn người. Thứ ba, triều đình Thành Tổ hay chế độ [[Đại học sĩ]], là một bộ máy không linh hoạt trong việc củng cố và trở thành một bộ máy không có khả năng hoạt động tốt. Tuy nhiên, trước đó, các hoàng đế có tài hơn đã thông qua hay giám sát tất cả các quyết định do hội đồng này đưa ra. Chính [[Minh Thái Tổ]] nói chung cũng được coi là một vị vua mạnh mẽ, người mang lại sự khởi đầu cho một triều đình mạnh và hiệu quả còn kéo dài tới sau thời đại của ông, nhưng việc tập trung hóa quyền lực đã chứng minh là bất lợi đối với những vị vua tầm thường.
 
== Xây dựng Vạn lý trường thành ==