Khác biệt giữa các bản “Nhà Minh”

không có tóm lược sửa đổi
Thời nhà Minh các mạng lưới cảnh sát ngầm phát triển rộng rãi trong quân đội. Do quá khứ xuất thân hèn mọn của mình, Minh Thái Tổ rất căm ghét các quan lại tham nhũng và hiểu rất rõ các nguy cơ có thể đến các cuộc nổi loạn. Ông đã tạo ra Cẩm Y Vệ để bảo vệ cẩn mật riêng cho mình và hoạt động như một đội cảnh sát chìm trong khắp đế chế. Dù đạt được rất ít thành công trong thời gian tồn tại đội ngũ này nổi tiếng vì sự tàn bạo trong việc xử lý các vụ phạm tội hơn là một lực lượng cảnh sát thực sự, trên thực tế nhiều người bị họ bắt là người vô tội. Cẩm Y Vệ đã reo rắc nỗi sợ hãi trong khắp đế chế. Tuy nhiên quyền lực của họ đã bị giảm sút khi ảnh hưởng của các hoạn quan trong triều ngày càng tăng. Các hoạn quan đã tạo ra ba nhóm mật vụ để phục vụ cho lợi ích của riêng mình. Đó là Đông Xưởng, Tây Xưởng và Nội Xưởng, và cả ba đều không kém Cẩm Y Vệ về mặt tàn bạo và có lẽ còn ở mức độ cao hơn bởi lẽ họ chính thức là một công cụ của hoạn quan trong việc loại bỏ các đối thủ chính trị chứ không còn mang một chức năng nào khác.
 
===Nạn hoạnCương quan=vực==
Trong thời kỳ đầu, triều Minh nhiều lần tác chiến với Bắc Nguyên và sau là Thát Đát cùng Ngõa Lạt, đồng thời tại khu vực Mạc Nam đặt hơn 40 [[vệ sở chế|vệ sở]] phòng vệ, như Đông Thắng vệ, Vân Xuyên vệ, chúng đều là trọng địa biên phòng của triều đình, hướng của chúng vào khoảng tuyến [[Âm Sơn]]-sườn nam Đại Thanh Sơn-sông Tây Lạp Mộc Luân. Sau thập niên 30 của thế kỷ 15, do khí hậu chuyển lạnh, nông nghiệp giảm sút, trong Tĩnh Nan chi dịch quân đội biên cương bị Yên vương điều đi nơi khác, do đó biên giới dời một ít về phía nam. Trong những năm Vĩnh Lạc, quân Minh nhiều lần Bắc phạt, tình hình biên giới cải thiện trong một thời gian. Tuy nhiên, từ trung kỳ trở đi, Mông Cổ lại quật khởi, biên giới lại dời về phía nam. Cùng với dựng Trường Thành nhằm phòng ngự Mông Cổ, ven Trường Thành còn đặt "cửu biên" (Liêu Đông, Kế Châu, Tuyên Phủ, Đại Đồng, Diên Tuy, Ninh Hạ, Cam Túc, Thái Nguyên, Cố Nguyên) tăng cường phòng ngự. Trường Thành cũng trở thành biên giới phía bắc của triều Minh vào trung-hậu kỳ, đồng thời còn là giới tuyến giữa khu vực nông canh và khu vực du mục<ref name="明朝疆域">{{cite book|author=姜公韜|title=《中國通史 明清史》|chapter=第三章 制度的更張與勢力的發揚|page=第40頁-第49頁|isbn=9787510800627|publisher=九州出版社|date=2010-1}}</ref>.
 
Minh Thái Tổ đặt Liêu Đông đô ty để quản lý Liêu Đông, đồng thời nhiều lần tiến quân đến lưu vực Hắc Long Giang, chiêu phủ các bộ lạc địa phương, thế lực của triều đình Minh từng đạt đến [[Dãy núi Stanovoy|Ngoại Hưng An Lĩnh]] (Stanovoy) và cửa sông của Hắc Long Giang, thậm chí đến tận đảo Khố Hiệt (Sakhalin). Năm Vĩnh Lạc thứ 7 (1409) thời Minh Thành Tổ, triều Minh đặt Nô Nhi Can đô ty tại khu vực Hắc Long Giang, song đây là cơ cấu không thường trực, không quản lý hơn 130 vệ sở tại Đông Bắc<ref name="《永寧寺記》"/>, đến năm Tuyên Đức thứ 9 (1434) thời Minh Tuyên Tông thì bị phế bỏ. Tuy nhiên, các vệ sở trên lãnh thổ này, và Liêu Đông đô ty vẫn tồn tại, để thi hành thống trị ki mi với địa phương. Sau những năm Chính Thống thời Minh Anh Tông, nhóm Ngột Lương Cáp thuộc Thát Đát và Kiến Châu Nữ Chân dời về phía nam, đồng thời không ngừng xâm phạm Liêu Đông đô ty. Năm Thành Hóa thứ 5 (1469) thời Minh Hiến Tông, triều đình Minh cho dựng "Liêu Đông biên tường". Từ cuối thế kỷ 16, thủ lĩnh Kiến Châu Nữ Chân là Nỗ Nhĩ Cáp Xích bắt đầu hưng khởi, thống nhất Nữ Chân, các vệ sở do triều đình Minh đặt dần tiêu vong. Năm Vạn Lịch thứ 44 (1616) thời Minh Thần Tông, Nỗ Nhĩ Cáp Xích xưng hãn, kiến quốc Đại Kim. Đến năm Vạn Lịch thứ 47 (1619), sau trận Tát Nhĩ Hử, quân Hậu Kim đột phá "Liêu Đông biên tường", chiếm lĩnh đại bộ phận lãnh thổ của Liêu Đông đô ty<ref name="明朝疆域"/>.
Nạn hoạn quan hầu như triều đình nào cũng có. [[Nhà Tần]], [[nhà Hán]] và [[nhà Đường]] sụp đổ một phần lớn cũng vì nạn [[hoạn quan]]. [[Minh Thái Tổ|Chu Nguyên Chương]] biết rõ, nên ra lệnh cấm không cho hoạn quan xen vào việc nước, hạn chế hoạn quan, phẩm trật chức tước, và cấm hoạn quan học chữ. Ông bảo các đại thần: ''"Kẻ nào dùng hoạn quan, coi như tai mắt thì kẻ đó hóa đui và điếc. Chì có một cách xư sử với chúng là làm cho chúng sợ phép nước, đừng thường khen chúng."'' Vậy nhưng hậu duệ lại làm trái hẳn với ý của Chu Nguyên Chương.
 
Những năm Vĩnh Lạc thời Minh Thành Tổ, cương giới Tây Bắc đạt đến địa khu [[Cáp Mật]] tại đông bộ Tân Cương hiện nay, đồng thời đặt một loạt vệ sở. Sau thập niên 30 của thế kỷ 15, Thổ Lỗ Phồn và bộ lạc Thanh Hải Mông Cổ dần lớn mạnh. Năm 1472, thành Cáp Mật vệ từng bị Thổ Lỗ Phổn công phá, về sau khôi phục, đến năm 1514 lại bị chiếm. Sau nửa sau thế kỷ 15, các vệ sở tại Tây Bắc đều mất hết, quân Minh triệt thoái phòng thủ [[Gia Dục quan]]<ref name="明朝疆域"/>.
Chỉ đến đời con ông, [[Minh Thành Tổ]], là hoạn quan lại được trọng dụng. Để thưởng công cho hoạn quan vì làm nội ứng cho mình cướp ngôi, Thành Tổ bỏ hết những cấm lệnh của cha, cho hoạn quan được bẩm phục của công, lãnh những chức lớn. Thái giám [[Trịnh Hòa|Trịnh Hoà]] được cử đi sứ; ông lại lập một cơ quan ở trong cung gọi là [[Đông Xưởng]] để dò la tìm bắt kẻ gian thần phản nghịch, cơ quan đó được giao cho một hoạn quan điều kiển, từ đó uy thế hoạn quan rất lớn.
 
Năm Hồng Vũ thứ 14 (1381) thời Thái Tổ, triều Minh mới hoàn toàn chiếm lĩnh khu vực Vân Nam-Quý Châu, đồng thời đặt một loạt thổ ty, tuyên úy ty để quản lý, biên giới đạt đến bắc trung bộ của Miến Điện, bắc bộ Lào, bắc bộ Thái Lan ngày nay. Tuy nhiên, về sau các khu vực này bị các quốc gia xung quanh thôn tính. Năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406) thời Thành Tổ, quân Minh tiến công An Nam, biên giới phía nam đến Nhật Nam châu, sang năm sau đặt An Nam bố chính ty, bên dưới đặt 15 phủ, 36 châu, hơn hai trăm huyện. Về sau do nhân dân địa phương phản kháng kịch liệt, triều đình Minh vào năm Tuyên Đức thứ 2 (1427) thời Tuyên Tông phải từ bỏ, An Nam khôi phục và do [[Nhà Lê sơ|vương triều Lê]] cai trị<ref name="明朝疆域"/>. Tại khu vực Tây Tạng, triều đình Minh thi hành chính sách "đa phong chúng kiến", tuy nhiên còn có bất đồng về việc điều này có đại diện cho sự thống trị của triều Minh với Tây Tạng hay không.
Đời [[Minh Tuyên Tông]] mở một thư đường trong nội phủ để dạy học các hoạn quan, được kết giao với các đại thần ở triều nên hoạn quan càng có thế lực. Nhiều thanh niên tự hoạn, nhiều cha mẹ hoạn con từ khi chúng mới vài tuổi để gây dựng tương lai cho chúng, mong cả họ được nhờ, vì vậy họa hoạn quan đời Minh còn hơn cả các triều đại trước.
 
Đầu thời Minh, triều đình đặt Bành Hồ tuần kiểm ty để quản lý quần đảo [[Bành Hồ]]. Năm 1553, người Bồ Đào Nha thu được quyền đậu thuyền tại Áo Môn, đến năm Gia Tĩnh thứ 37 (1557) thì có được quyền lưu cư, trước khi hai bên ký kết điều ước thông thương vào năm 1887 thì Trung Quốc luôn có chủ quyền với Áo Môn<ref name="明朝疆域"/>
==Cương vực==
[[Tập tin:Ming foreign relations 1580.jpg|nhỏ|180px|Lãnh thổ nhà Minh năm 1580, lúc này đã mất quyền kiểm soát với vùng phía Bắc trường thành]]
Sự khởi đầu của nhà Minh được đánh dấu bởi [[Những cuộc chinh phạt quân sự của nhà Minh|những cuộc chinh phạt]] khi họ tìm cách củng cố và mở rộng quyền lực.
 
== Phân chia hành chính==
Trong những năm cầm quyền đầu tiên của mình, vị vua đầu tiên nhà Minh, [[Minh Thái Tổ|Thái Tổ]], đã đưa ra những chỉ dẫn như những huấn thị cho các thế hệ sau này. Chúng gồm những lời khuyên cho rằng các nước ở phương bắc là rất nguy hiểm và là một mối đe dọa đối với chính thể nhà Minh. Trái lại, ông cho rằng các nước phương nam không phải là một mối đe doạ, vì thế cũng không phải là một mục tiêu cần tấn công. Dù tuân theo hay không tuân theo những chỉ dẫn này, chính các nước phương nam là mục tiêu xâm lấn và mở rộng của nhà Minh trong những thế kỷ tiếp sau. Sự dính líu tới phương nam mà không mang lại lợi ích cụ thể nào rõ ràng đã làm đế quốc Minh suy yếu.
[[File:Ming Dynasty Administrative division.jpg|left|thumb|300px|Phân chia hành chính Trung Quốc thời cực thịnh.]]
Triều Minh về đại thể kế thừa phân chia hành chính của triều Nguyên, khu hành chính địa phương cấp một đặt 'thừa tuyên bố chính ty' (bố chính ty), 'đề hình án sát sứ ty' (án sát ty), và 'đô chỉ huy sứ ty' (đô ty), phân biệt quản lý hành chính, tư pháp và quân sự, phòng ngừa tập trung quyền lực địa phương<ref name="明朝州省">《細說明朝》〈二一、州、省〉. 黎東方. 第51頁</ref>. 'Bố chính ty' được gọi phổ biến là tỉnh, bên dưới lần lượt phân thành đạo, phủ, và huyện. Đạo là đơn vị hành chính đặt giữa tỉnh và phủ huyện, phân thành hai loại 'phân thủ đạo' và 'phân tuần đạo'. "Phủ" nguyên là lộ của triều Nguyên, lấy thuế lương ít hay nhiều để phân tiêu chuẩn, lương từ 20 vạn thạch trở lên là 'thượng phủ', từ 10 đến dưới 20 vạn thạch là 'trung phủ', dưới mười vạn thạch là 'hạ phủ'. Phân định quân sự có hai chế độ là vệ, sở. Thời Đại Tông, Anh Tông đặt tuần phủ quản lý hành chính và tổng đốc quản lý quân sự do trung ương phái đi, địa vị đứng đầu tại bố chính ty và đô ty. Nhằm hạn chế quyền lực của tuần phủ và tổng đốc, còn đặt chức 'đô ngự sử' để cân bằng. Triều Minh cuối cùng có 140 phủ, 193 châu, 1138 huyện, 493 vệ, 359 sở<ref name="明朝州省"/>.
 
Thừa tuyên bố chính sứ ty (bố chính ty) quản lý hành chính địa phương, địa vị tương đương với "hành trung thư tỉnh" vào thời Nguyên. Minh Thái Tổ vốn duy trì tên gọi "hành trung thư tỉnh", đến năm 1376 thì đổi thành "bố chính sứ ty", thường gọi là hành tỉnh<ref name="明太祖的開國規模"/>. Đầu thời Minh đặt 13 bố chính ty cùng kinh sư (địa vị tương đương bố chính ty, quản lý Giang Tô và An Huy hiện nay). Năm 1380, sau án Hồ Duy Dung triều Minh phế bỏ "trung thư tỉnh", kinh sư và bố chính ty trực thuộc Lục bộ. Thời kỳ Minh Thành Tổ, từ năm 1407 đến năm 1428 đặt Giao Chỉ bố chính ty. Năm 1413, đặt Quý Châu bố chính ty. Do thiên đô Bắc Kinh, vào năm 1403 đưa Bắc Bình bố chính ty thăng làm "hành tại", năm 1421 sau khi thiên đô Bắc Kinh gọi là kinh sư (Bắc Trực Lệ), kinh sư cũ đổi thành Nam Kinh (Nam Trực Lệ), hình thành phân chia hành chính "lưỡng kinh thập tam tỉnh". Lưỡng kinh là Bắc Kinh và Nam Kinh, gọi chính thức là Thuận Thiên phủ và Ứng Thiên phủ<ref name="明太祖的開國規模"/>, chúng cùng với các châu phủ lân cận lần lượt gọi chung là Bắc Trực Lệ và Nam Trực Lệ, không đặt bố chính ty, 13 bố chính ty gồm: Thiểm Tây, Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Chiết Giang, Giang Tây, Hồ Quảng, Tứ Xuyên, Quảng Đông, Phúc Kiến, Quảng Tây, Quý Châu, Vân Nam. Phân chia hành chính của triều Minh về đại thể phù hợp với địa thế núi sông, song có một số điểm bất hợp lý, như Nam Trực Lệ nằm vắt qua cả ba khu vực Hoài Bắc, Hoài Nam, Giang Nam, khu vực Tô-Tùng về ngôn ngữ-văn hóa thuộc khu Thái Hồ Ngô-Việt song được quy nhập Nam Trực Lệ thay vì Chiết Giang; bồn địa Hán Trung nằm tại phía nam [[Tần Lĩnh]] được quy nhập Thiểm Tây thay vì Tứ Xuyên, Hà Nam bao gồm một phần phía bắc Hoàng Hà. Quý Châu có hình giống loài bướm khi khoảng giữa hẹp song hai bên thì rộng<ref name="明朝州省"/>.
==Thể chế chính trị==
 
Đô chỉ huy sứ ty (đô ty) quản lý quân sự địa phương, Minh Thái Tổ sử dụng chế độ vệ sở, vào năm 1370 tại các tỉnh đặt một "đô vệ", đến năm 1375 mới đặt đô ty quản lý. Đô ty vốn lệ thuộc đại đô đốc phủ, sau án Hồ Duy Dung triều đình chia đại đô đốc phủ làm năm, phân quyền quản lý các vệ sở. Triều Minh tổng cộng đặt 16 đô ty, 5 hành đô ty, 2 lưu thủ ty. Trong đó, có 13 đô ty trùng tên với bố chính ty, ba đô ty khác là Vạn Toàn đô ty, Đại Ninh đô ty và Liêu Đông đô ty. 5 hành đô ty là Thiểm Tây, Tứ Xuyên, Hồ Quảng, Phúc Kiến, Sơn Tây. Hai lưu thủ ty là Trung Đô lưu thủ ty (nay là [[Phượng Dương]]) đặt vào thời Hồng Vũ, Hưng Đô lưu thủ ty đặt tại Thừa Thiên phủ (nay là [[Chung Tường]], Hồ Bắc) thời Gia Tĩnh<ref>郭紅、靳潤成.《中國行政區劃通史.明代卷》.上海市.復旦大學出版社.2007年8月.</ref>. Trong các đô ty có tính chất ki mi, nổi danh nhất là Nô Nhi Can đô ty quản lý lưu vực Hắc Long Giang, Tùng Hoa Giang và đảo Khố Hiệt; tại khu vực Thanh-Tạng chính giáo hợp nhất đặt hai đô ty Ô Tư Tạng, Đóa Cam, ngoài ra còn đặt tại khu vực giao giới Cam Túc và Thanh Hải hiện nay các vệ sở như Cáp Mật, Khúc Tiên. Những thể chế này có tính chất không giống như đô ty, hành đô ty tại nội địa<ref name="布政使司">《細說明朝》〈二二、布政使司、分守道;按察使司、分巡道〉. 黎東方. 第53頁-第54頁</ref>.
 
Tuần phủ quản lý dân chính, nguyên bản là vào thời Minh Tuyên Tông phái đại thần lục bộ, đô sát viện lấy đó làm danh nghĩa để đốc phủ hành chính địa phương, đến thời Minh Đại Tông chính thức hình thành khu hành chinh cấp một. Thời Minh Anh Tông đặt chức tổng đốc, phân làm hai loại là ngắn hạn và dài hạn, quản lý quân sự của một vài bố chính ty. Tuy nhiên, quan hệ phụ thuộc giữa tuần phủ và bố chính ty là không đồng nhất, có tuần phủ chỉ gồm 1-2 bố chính ty, như Sơn Tây-Hà Nam tuần phủ thời Chính Thống; lại có trường hợp trong địa phận một bố chính ty có vài tuần phủ, như Bắc Trực Lệ có Thuận Thiên tuần phủ, Bảo Định tuần phủ, Tuyên Phủ tuần phủ; Nam Trực Lệ có hai tuần phủ: Ứng Thiên tuần phủ, Thuận Dương tuần phủ. Cũng có trường hợp tuần phủ quản lý khu vực giao giới giữa các bố chính ty, như Nam Cám Thiều Đinh tuần phủ nằm trên ba bố chính ty là Giang Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến<ref name="明朝州省"/>.
 
== Ngoại giao==