Khác biệt giữa các bản “Thành phố Hồ Chí Minh”

n
sửa chính tả 3, replaced: sỹ quan → sĩ quan using AWB
n (sửa chính tả 3, replaced: sỹ quan → sĩ quan using AWB)
{{chính|Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh}}
=== Thời kỳ hoang sơ ===
Con người xuất hiện ở khu vực Sài Gòn từ khá sớm. Các cuộc khai quật [[khảo cổ học|khảo cổ]] trên địa phận Sài Gòn và khu vực lân cận cho thấy ở đây đã tồn tại nhiều nền văn hóa từ [[thời đại đồ đá|thời kỳ đồ đá]] cho tới thời kim khí. Những cư dân cổ từ nhiều thiên niên kỷ về trước đã biết đến kỹ thuật canh tác [[nông nghiệp]].
 
[[Văn hóa Sa Huỳnh]] từng tồn tại trên khu vực này với những nét rất riêng. Thời kỳ [[văn hoá Óc Eo|văn hóa Óc Eo]], từ đầu [[Công Nguyên]] cho tới [[thế kỷ 7]], khu vực miền Nam Đông Dương có nhiều tiểu quốc và Sài Gòn khi đó là miền đất có quan hệ với những vương quốc này.
[[Tập tin:Saigon halles cen.JPG|nhỏ|250px|[[Chợ Bến Thành]], Sài Gòn thời [[pháp thuộc|thuộc địa]] với những [[cột Morris]] đặc trưng của [[Pháp]].]]
 
Ngay sau khi chiếm được thành Gia Định vào năm [[1859]], người [[Pháp]] gấp rút quy hoạch lại Sài Gòn thành một đô thị lớn phục vụ mục đích [[khai thác thuộc địa]]. Đồ án thiết kế được Phó Đô đốc Pháp là Page (về sau là Charner) cử trung tá (Lieutenant colonel) công binh Pháp là [[Paul Florent Lucien Coffyn]] (20/5/1810 - 5/8/1871) - ông này nguyên là Lãnh sự Pháp ở Hoa Kỳ, thiết kế. Theo bản đồ quy hoạch ban đầu của Coffyn được công bố vào ngày 13/5/1862 (trích trong "Les Premieres Annes de la Cochinchine, Colonie Francaise"), Sài Gòn bao gồm cả khu vực [[Chợ Lớn]] với khoảng 500.000 dân (Saigon ville de 500.000 âmes), tức khoảng 20.000 dân/km<sup>2</sup><ref name="tuoitre1070977">[http://tuoitre.vn/tin/ban-doc/20160322/quy-hoach-sai-gon-nam-1772-xai-den-200-nam/1070977.html Quy hoạch Sài Gòn 1772 vượt xa tầm nhìn người Pháp 1865], Báo Tuổi trẻ, 22/03/2016</ref>. Quy hoạch này tương ứng với quy hoạch khu vực phòng thủ của tướng [[Nguyễn Cửu Đàm]] năm 1772 khi dân số Sài Gòn chỉ khoảng 20.000-30.000 người<ref name="tuoitre1070977"/>. Nhưng đến [[1864]], nhận thấy diện tích dự kiến của thành phố quá rộng, khó bảo đảm về an ninh, Soái phủ Pháp ở Nam Kỳ (Gouverneur Amiral de la Cochinchine) lúc đó là Chuẩn đô đốc Pierre Rose quyết định tách [[Chợ Lớn]] khỏi Sài Gòn. Ngày 3/10/1865 ông ban hành Nghị định quy hoạch lại Sài Gòn chỉ còn là khu vực nằm giữa rạch Thị Nghè, sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé và đường mới khu cầu Ông Lãnh hiện nay. Toàn bộ quy hoạch rộng khoảng 3 &nbsp;km<sup>2</sup><ref name="tuoitre1070977"/>.
 
Rất nhanh chóng, các công trình quan trọng của thành phố, như [[Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh|Dinh Thống đốc Nam Kỳ]], [[Dinh Độc Lập|Dinh Toàn quyền]], được Pháp thiết kế và huy động nhân công xây dựng. Sau hai năm người Pháp xây dựng và cải tạo, bộ mặt Sài Gòn hoàn toàn thay đổi.<ref name="phap">{{chú thích web|title=Sài Gòn biến đổi và hình thành một thành phố theo kiểu phương Tây|url=http://www.hochiminhcity.gov.vn/left/gioi_thieu/lich_su_van_hoa/lich_su/tp_chung_nhan_cua_dong_chay_ls/khang_chien_chong_phap/sai_gon_bien_doi_va_hinh_thanh_mot_thanh_pho_theo_kieu_phuong_tay?left_menu=1|publisher=Website Thành phố Hồ Chí Minh|accessdate=ngày 22 tháng 5 năm 2014|archiveurl=http://web.archive.org/web/20090415183847/http://www.hochiminhcity.gov.vn/left/gioi_thieu/lich_su_van_hoa/lich_su/tp_chung_nhan_cua_dong_chay_ls/khang_chien_chong_phap/sai_gon_bien_doi_va_hinh_thanh_mot_thanh_pho_theo_kieu_phuong_tay?left_menu=1|archivedate=ngày 15 tháng 4 năm 2009}}</ref>
 
Thành phố Sài Gòn khi đó được thiết kế theo mô hình [[châu Âu]], nơi đặt văn phòng nhiều cơ quan công vụ như: dinh thống đốc, nha giám đốc nội vụ, tòa án, tòa thượng thẩm, tòa sơ thẩm, tòa án thương mại, tòa giám mục... [[Nam Kỳ Lục tỉnh]] là thuộc địa của Pháp và Sài Gòn nằm trong [[Gia Định (tỉnh)|tỉnh Gia Định]]. Vào năm [[1861]], địa phận Sài Gòn được giới hạn bởi một bên là [[kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè|rạch Thị Nghè]] và [[Bến Nghé (sông)|rạch Bến Nghé]] với một bên là [[sông Sài Gòn]] cùng con đường nối liền [[chùa Cây Mai]] với những phòng tuyến cũ của [[đồn Kỳ Hòa]].
 
Đến năm [[1867]], việc quản lý Sài Gòn được giao cho Ủy ban thành phố gồm 1 ủy viên và 12 hội viên; đừng đầu là viên Thị trưởng người Pháp tên là [[Charles Marie Louis Turc]] (1867 - 1871). Cho tới nửa đầu thập niên [[1870]], thành phố Sài Gòn vẫn nằm trong địa hạt hành chính tỉnh Gia Định.<ref name="phap"/> Ngày [[15 tháng 3]] năm [[1874]], [[Tổng thống Pháp]] [[Jules Grévy]] ký sắc lệnh thành lập thành phố Sài Gòn.<ref name="biennien"/> Đứng đầu là viên Thị trưởng [[người Pháp]], đầu tiên là G. Vinson (1874 - 1876). Đến năm 1879 thì Pháp cho lập thêm Hội đồng thành phố Sài Gòn (hay đúng ra là Ủy hội thành phố - ''Commission municipale'').<ref>Goodman, Allan E. ''Politics in War''. Cambridge, MA: Havard University Press, 1973. tr 14</ref>
[[File:La-manufacture-dopium-de-sagon-en-1904.jpg|nhỏ|phải|250px|Xưởng [[thuốc phiện]] (Manufacture d'Opium) ở Sài Gòn thời thuộc Pháp. Khu xưởng này cung ứng từ 1/3 đến 1/2 ngân sách toàn Đông Dương]]
[[File:Cho Ben Thanh dau the ky 20.jpg|nhỏ|phải|250px|Khu vực Cầu Ông Lãnh và con rạch nhỏ chảy ra rạch Bến Nghé (nay là đường Nguyễn Thái Học. Q.1, TP.HCM) thời kỳ đầu thế kỷ 20 còn rất hoang sơ]]
Sở dĩ có danh hiệu này vì trong thời kỳ thuộc Pháp, Sài Gòn được người Pháp xây dựng thành một nơi ăn chơi xa xỉ cho quan chức Pháp, được Pháp mệnh danh là ''"Hòn ngọc Viễn Đông"'' (Viễn Đông ở đây là chỉ 3 nước thuộc địa ở cực Đông của Pháp, gồm [[Việt Nam]], [[Lào]] và [[Campuchia]] chứ không phải là toàn [[Đông Á]] như cách hiểu hiện nay). Và không chỉ Sài Gòn, cả thành phố [[Phnom Penh]] (thủ đô nước [[Campuchia]] hiện nay) cũng được Pháp gọi là "Hòn ngọc Viễn Đông"<ref name="kerdowney.com">http://kerdowney.com/2010/06/custom-travel-in-indochina-introducing-cambodia/</ref>.
 
Gọi là "hòn ngọc" nhưng thực ra thời ấy Sài Gòn rất nhỏ, chỉ cần đi xa 20 &nbsp;km là có thể săn thú rừng. Theo quy hoạch của Pháp, Sài Gòn khi đó chỉ rộng khoảng 3km3&nbsp;km<sup>2</sup>; gần bằng một nửa [[Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh|Quận 1]] hiện nay (rộng khoảng 8km8&nbsp;km<sup>2</sup>)<ref>{{Chú thích web|url=http://tuoitre.vn/tin/ban-doc/20160510/vien-ngoc-sai-gon-thoi-thuoc-phap-sang-co-nao/1093378.html|title=Viên ngọc Sài Gòn thời thuộc Pháp “sáng” cỡ nào?}}</ref>, bao bọc bởi sông Sài Gòn - Nguyễn Thái Học - Nguyễn Thị Minh Khai - rạch Bến Nghé. Chính quyền thuộc địa Pháp tập trung tất cả những gì sang trọng, giàu có nhất mà họ có được ở diện tích 3km2 này, phần còn lại của Sài Gòn thì vẫn còn rất hoang sơ, [[đầm lầy]] ngổn ngang<ref name="tuoi" />. Theo [[Sơn Nam]] trong “Bến Nghé xưa” thì khi [[Chợ Bến Thành]] hoàn thành năm 1914, ''“trước mặt còn là ao vũng sình lầy. Giữa Sài Gòn và Chợ Lớn phía đất thấp (…), còn ruộng lúa với người cày, ao nuôi vịt, ngọn rạch cạn. Giữa Sài Gòn và ở phần đất cao còn nhiều chòm tre, cây da, mồ mả to xen vào những đám rẫy trồng rau cải và bông hoa, những xóm nhà ổ chuột; bầy bò dê đi lang thang ăn cỏ”''. Khu Hòa Hưng ([[Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh|Quận 10]] hiện nay) cho đến ngã tư Bảy Hiền hiện nay có vô số [[nghĩa trang]], mồ mả. Khu Nguyễn Thiện Thuật, Lý Thái Tổ, Nguyễn Đình Chiểu ([[Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh|Quận 3]] hiện nay) toàn nhà lá nền đất xây dựng tạm bợ không theo quy hoạch nào. Khu quận 4, quận 7, khu [[Cầu Ông Lãnh]], Cầu Kho… sát cạnh chợ Bến Thành đa số là nhà tranh vách lá tạm bợ<ref name=tuoi>http://tuoitre.vn/tin/ban-doc/20160510/vien-ngoc-sai-gon-thoi-thuoc-phap-sang-co-nao/1093378.html</ref>
 
Người Pháp từ lúc đánh chiếm Gia Định năm 1859 cho đến khi rời Sài Gòn 1954 chỉ tập trung “trau chuốt” khu vực 3km3&nbsp;km<sup>2</sup> đầu tiên này (Quận 1 hiện nay) dù nhiều lần điều chỉnh địa giới mở rộng. Đến năm 1954, những phần Sài Gòn mở rộng này (rộng khoảng 50km50&nbsp;km<sup>2</sup>) vẫn hoang sơ, thậm chí đầm lầy ngổn ngang.<ref name="tuoi" />
 
Trong cuốn sách lịch sử của mình, [[Henry Kamn]] nhận xét về sự tương phản giữa đời sống của giới thượng lưu Pháp với người dân địa phương<ref name=dragon>Dragon Ascending: Vietnam and the Vietnamese. Henry Kamn. Skyhorse Publishing 1996. Chapter 6: Two cities, one nation</ref>:
''Nó hoàn toàn không phải là "hòn ngọc" với thợ thuyền người Việt ở xưởng đóng tàu [[Ba Son]], cu li bốc vác ở [[cảng Sài Gòn]], phu xe kéo và đông đảo người dân bản xứ mang trên mình bản án kiếp [[nô lệ]], kẻ mất nước.''<br>''Để phục vụ cho hòn ngọc ấy, cả một xã hội Sài Gòn trở thành [[thuộc địa]], phải cung phụng cho Pháp mà nhiều địa danh còn được giữ đến tận bây giờ: Xóm Củi, Xóm Than, Xóm Dầu, Xóm Bàu Sen (gần đồn Cây Mai), Xóm Giá (làm giá đậu xanh gần cầu Cây Gõ), xóm Lò Bún (gần giếng Hộ Tùng), Xóm Ụ Ghe, Xóm Rẫy Cái, Xóm Cây Cui...''|}}
 
Trên thực tế, Sài Gòn cũng không phải là nơi duy nhất ở Đông Á được mệnh danh là "[[Hòn ngọc Viễn Đông]]". Trong thời kỳ này, mỗi cường quốc phương Tây đều đặt cho một thành phố [[thuộc địa]] nào đó của họ ở Đông Á là "Hòn ngọc Viễn Đông", như [[Manila]] (thủ đô nước [[Philipines]], thuộc địa của Mỹ<ref>https://www.washingtonpost.com/news/worldviews/wp/2015/02/19/manila-was-known-as-the-pearl-of-the-orient-then-world-war-ii-happened/</ref>), [[Hong Kong]] (thuộc địa của Anh<ref>http://travelaway.me/100-cities-and-their-nicknames/</ref>) [[Sri Lanka]], quốc đảo ở Nam Á (thuộc địa của Anh<ref>http://america.pink/pearl-the-orient_3448170.html</ref>), [[Phnom Penh]] (thủ đô nước [[Campuchia]], thuộc địa của Pháp<ref>http:// name="kerdowney.com"/2010/06/custom-travel-in-indochina-introducing-cambodia/</ref>) cũng được gọi là "Hòn ngọc Viễn Đông". Danh hiệu này mang tính phô trương giữa các nước thực dân phương Tây với nhau về đời sống xa xỉ của quan chức sống ở [[thuộc địa]] chứ không phản ánh đời sống thực tế nghèo nàn của người dân địa phương. Ngoài ra, quy mô nền kinh tế giữa các "Hòn ngọc Viễn Đông" này cũng có sự chênh lệch rất lớn. Ví dụ, [[Hồng Kông]] năm 1941 đã có 1,6 triệu dân<ref>Linda Pomerantz-Zhang (1992). "''[https://books.google.com/books?id=otwbBh_GgrwC&pg=PA19&dq&hl=en#v=onepage&q=&f=false Wu Tingfang (1842–1922): reform and modernization in modern Chinese history]''". Hong Kong University Press. p.8. ISBN 962-209-287-X</ref> trong khi Sài Gòn lúc này vẫn chưa có quá 250.000 dân<ref name="dragon" />
 
=== Thủ đô Sài Gòn ===
Trung tâm thành phố có một số công trình, khu phố được xây dựng to đẹp và sang trọng, tuy nhiên, các công trình này chủ yếu do [[Pháp]] xây dựng từ thập niên 1940, các khu nhà mới rất ít được xây dựng kể từ sau năm 1950, trong khi đó dân cư nông thôn đổ về thành thị tìm việc và tránh chiến sự khiến Sài Gòn dần trở thành một [[khu ổ chuột]] khổng lồ<ref>[http://pdf.usaid.gov/pdf_docs/PNAAK857.pdf DIALECTICS OF URBAN PROPOSALS FOR THE SAIGON METROPOLITAN AREA. P.31-32]</ref>. Khảo sát cho thấy khoảng 40% dân số khu vực Sài Gòn khi đó (tức khoảng 1,2 triệu người) phải sống tại [[khu ổ chuột]] với những điều kiện về y tế, vệ sinh rất kém<ref>[http://pdf.usaid.gov/pdf_docs/PNAAK857.pdf DIALECTICS OF URBAN PROPOSALS FOR THE SAIGON METROPOLITAN AREA. P.109]</ref>
 
Sài Gòn giai đoạn này đã rộng hơn so với thời Pháp thuộc, nhưng vẫn còn khá nhỏ (chỉ rộng khoảng 25 &nbsp;km<sup>2</sup>). Có lúc Ngô Đình Diệm có dự án nới rộng Sài Gòn sang vùng [[Thủ Thiêm]] còn thưa dân, nhưng thấy nơi đây còn quá hoang vu, cây cối rậm rạp, lại gần [[Rừng Sác]], sợ rằng an ninh không đảm bảo nên dự án bị xếp qua một bên. Để giải quyết nạn khan hiếm nhà ở và chỉnh trang mĩ quan đô thị, theo tính toán, Sài Gòn cần xây mới 50.000 căn hộ và giải tỏa 110.000 [[nhà ổ chuột]]. Thế nhưng trong suốt 10 năm tồn tại của Việt Nam Cộng hòa, chỉ có 15.700 căn hộ được xây<ref name=hochiminh />.
 
Mặt khác, phong trào "[[thương phế binh cắm dùi]]" của cựu chiến binh [[quân đội Sài Gòn]] vào đầu thập niên 1970 khiến cho kiến trúc Sài Gòn trở nên lộn xộn và tạm bợ, không còn ngăn nắp như quy hoạch của người Pháp. Phong trào này khởi phát từ những cuộc [[biểu tình]] của thương binh đòi chính phủ Sài Gòn cấp đất xây nhà cho họ như đã hứa, về sau bùng phát và lan rộng. Với mục đích là “cắm dùi”, các nhóm biểu tình rào dây, đóng cọc chiếm những khoảng đất khang trang ở hai bên lề đường, kể cả chỗ sát với hàng rào các biệt thự. Thậm chí có những nơi vỉa hè rộng rãi chỗ được tráng xi măng, cũng bị những người trong nhóm chiếm cứ để chia nhau. "Chiến dịch cắm dùi" đã lan tràn rõ rệt nhất như tại khúc đường Hồng thập tự (gần [[bệnh viện Từ Dũ]]) tới khúc đường xe lửa gần rạp Cải lương Kim-chung); Khúc đất trống dọc đường Lý Thái Tổ; đường Nguyễn Tri Phương, Võ Tánh (khu Chợ Lớn), đại lộ Hùng vương… Chính phủ Sài Gòn không dám giải tán họ vì sợ lực lượng quân nhân bất bình, coi như sự đã rồi. Các khu ven trung tâm trở nên lộn xộn, nhếch nhác với nhiều [[khu ổ chuột]], [[nhà mái lá]], [[chợ trời]]... tự phát mọc lên.<ref>Từ Tổng Trấn Sài-gòn Bước Sang Tư lệnh Quân đoàn III. Sàigòn "Không Ngủ Yên"! - Hồi ký tướng Nguyễn Ngọc Tùng</ref>
{{cquote|''"Mỹ đã biến Sài Gòn thành một [[Nhà thổ|ổ điếm]]"''<ref>J. William Fulbright, Vietnam, and the Search for a Cold War Foreign Policy. By Randall Bennett Woods. Cambridge University Press, 1998. ISBN 0521588006. P. 126</ref>|}}
 
Câu nói của Thượng nghị sĩ William Fulbright tuy xúc phạm đến thể diện của Sài Gòn, song đã phản ánh một thực tế về tình trạng mại dâm diễn ra bùng phát ở khắp thành phố trong thời kỳ này. Một tạp chí xuất bản ở Sài Gòn mô tả: ''"Tại chợ heo đó, hằng ngày có hai ba trăm người con gái Việt Nam đứng sắp hàng... cho lính Mỹ đến chọn dắt đi. Với một nắm đôla trong tay, lính Mỹ thật là nhiều tự do: tự do phá hoại [[văn hóa Việt Nam]]"''<ref name=hochiminh />.
 
Thủ tướng Singapore [[Lý Quang Diệu]] từng nói: ''"Sài Gòn từng có thể làm được những gì Singapore đã làm... Nếu nhìn vào Sài Gòn và Singapore vào năm 1954, ai đó có thể nói Singapore là thứ bỏ đi, không phải Sài Gòn"'', nhưng rồi Singapore đã tự đứng vững trong khi chính phủ Sài Gòn thì ngày một suy sụp và phải dựa vào Mỹ để tồn tại. Lý Quang Diệu cho rằng chính phủ Mỹ thời Eisenhower đã ''"cho phép [[Ngô Đình Diệm]] thanh trừng khỏi hệ thống chính trị tất cả các lựa chọn thay thế cho ông ta"''. Chính phủ Sài Gòn đã không còn một ai có đủ tài năng để đóng vai trò lãnh đạo dẫn dắt, dẫn tới sự lụn bại và sụp đổ của nền kinh tế nơi đây<ref>http://www.thecrimson.com/article/1967/10/23/lee-kuan-yew-plee-kuan-yew/</ref>
:''Sài Gòn đang sụp đổ trước mắt, một Sài Gòn được người Mỹ hậu thuẫn, một thành phố được coi là “thủ đô tiêu dùng” nhưng chẳng hề sản xuất được một mặt hàng nào ngoài chiến tranh. Trong hàng ngũ của quân đội lớn thứ tư thế giới vào thời điểm đó, binh lính đang đào ngũ với tốc độ cả nghìn người trong một ngày...''<ref>{{chú thích web | url = http://kienthuc.net.vn/hot-video/su-that-hua-cua-my-sau-hiep-dinh-paris-1973-483874.html | tiêu đề = Sự thất hứa của Mỹ sau Hiệp định Paris 1973 | author = | ngày = | ngày truy cập = 27 tháng 9 năm 2015 | nơi xuất bản = Kienthuc.net.vn | ngôn ngữ = }}</ref>
 
Sau [[Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975]], nhiều thường dân ở thành phố hoặc binh lính, sỹ quan, viên chức Việt Nam Cộng hòa và những người cộng tác với Mỹ đã ra nước ngoài định cư.<ref name=hochiminh>{{chú thích web|title=Sài Gòn dưới thời Mỹ Ngụy|url=http://www.hochiminhcity.gov.vn/left/gioi_thieu/lich_su_van_hoa/lich_su/tp_chung_nhan_cua_dong_chay_ls/khang_chien_chong_my/sai_gon_duoi_thoi_my_nguy?left_menu=1|publisher=Website Thành phố Hồ Chí Minh|accessdate=ngày 22 tháng 5 năm 2014|archiveurl=http://web.archive.org/web/20090415191707/http://www.hochiminhcity.gov.vn/left/gioi_thieu/lich_su_van_hoa/lich_su/tp_chung_nhan_cua_dong_chay_ls/khang_chien_chong_my/sai_gon_duoi_thoi_my_nguy?left_menu=1|archivedate=ngày 15 tháng 4 năm 2009}}</ref> Cũng trong thời gian này, ước tính 700.000 người khác được vận động đi [[kinh tế mới]]; nền văn hóa có ảnh hưởng phương Tây bị lu mờ rồi tàn lụi.<ref>Nigel Cawthorne, Chiến tranh Việt Nam Được Và Mất, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm xuất bản 2007, tr. 396</ref>
 
=== Thành phố Hồ Chí Minh ===