Mở trình đơn chính

Các thay đổi

không có tóm lược sửa đổi
{{Infobox royalty
{{Thông tin nhân vật hoàng gia
| tênname = William IV
| image = William IV crop.jpg
| tước vị =
| caption = Chân dung bởi Sir [[Martin Archer Shee]], [[1833]] (chi tiết)
| thêm =
| succession = [[Danh sách vua và nữ hoàng Anh|Vua của nước Anh thống nhất]]
| hình = William IV by Sir Martin Archer Shee.jpg
| moretext = ([[Style of the British sovereign#Styles of British sovereigns|more...]])
| cỡ hình =
| reign = {{nowrap|26 June 1830 – 20 June 1837}}
| ghi chú hình = Họa phẩm của Sir [[Martin Archer Shee]], 1833
| coronation = [[8 tháng 9]], [[1831]]
| chức vị = [[Danh sách vua và nữ hoàng Anh|Quốc vương]] của [[Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland|Anh]] và [[Cộng hòa Ireland|Ái Nhĩ Lan]]
| cor-type = britain
| tại vị = [[26 tháng 6]] năm [[1830]] – [[20 tháng 6]] năm [[1837]]
| tiền nhiệmpredecessor = [[George IV của Liên hiệp Anh và Ireland|George IV]] {{Vương miện}}
| successor = [[Nữ hoàng Victoria|Victoria]]
| nhiếp chính =
| reg-type = [[Thủ tướng của nước Anh thống nhất|Thủ tướng]]
| kế nhiệm = [[Victoria của Anh|Victoria]] {{Vương miện}}
| regent =
| thông tin phối ngẫu = ẩn
{{list collapsed
| phối ngẫu = [[Adelaide xứ Saxe-Meiningen]]
| title = ''Xem danh sách''
| kiểu phối ngẫu = Vợ
| vợ1 =
{{plainlist |
| chồng =
* [[Arthur Wellesley, Công tước Wellington thứ nhất|Công tước Wellington]]
| chức vị 1 = [[Vua|Quốc vương]] của [[Hannover|Hanover]]
* [[Charles Grey, Bá tước xứ Grey thứ hai|Bá tước Grey]]
| tại vị 1 = [[26 tháng 6]] năm [[1830]] – [[20 tháng 6]] năm [[1837]]
* [[William Lamb, Tử tước Melbourne thứ hai|Tử tước Melbourne]]
| nhiếp chính 1 =
* [[Robert Peel]]
| tiền nhiệm 1 = [[George IV của Anh|George IV]]
}}
| kế nhiệm 1 = [[Ernest Augustus I của Hanover|Ernest Augustus I]] {{Vương miện}}
}}
| thông tin con cái = ẩn
| succession1 = [[Vua của Hanover]]
| con cái = [[Bà hoàng Charlotte xứ Clarence]]<br />[[Bà hoàng Elizabeth xứ Clarence]]<br />và nhiều người con ngoài giã thú
| reign1 = [[26 tháng 6]], [[1830]]&nbsp;– [[20 tháng 6]], [[1837]]
| tên đầy đủ = William Henry
| predecessor1 = [[George IV của Liên hiệp Anh và Ireland|George IV]]
| tước hiệu = ''HM'' The King<br />''HRH'' The Duke of Clarence and St. Andrews<br />''HRH'' The Prince William
| hoàng tộcsuccessor1 = [[NhàErnest Augustus I của Hanover|Ernest Augustus]]
| spouse = [[Adelaide xứ Saxe-Meiningen]]
| ca khúc hoàng gia = [[God Save the Queen|God Save the King]]
| issue =
| cha = [[George III của Anh|George III]] {{Vương miện}}
''Hợp pháp:''
| mẹ = [[Charlotte xứ Mecklenburg-Strelitz]]
{{plainlist |
* Công chúa Charlotte xứ Clarence
* [[Công chúa Elizabeth xứ Clarence]]
}}
 
''Ngoại hôn:''
{{plainlist |
* [[George FitzClarence, Bá tước Munster thứ nhất|George FitzClarence, Bá tước Munster]]
* [[Henry FitzClarence]]
* [[Sophia Sidney, Nữ Nam tước Isle và Dudley]]
* [[Lady Mary Fox]]
* [[Lord Frederick FitzClarence]]
* [[Elizabeth Hay, Nữ Bá tước Erroll]]
* [[Lord Adolphus FitzClarence]]
* [[Lady Augusta Gordon]]
* [[Lord Augustus FitzClarence]]
* [[Amelia Cary, Nữ Tử tước Falkland]]
}}
| issue-link = #Con cái
| issue-pipe = xem thêm...
| full name = William Henry
| house = [[Nhà Hanover|Hanover]]
| father = [[George III của Liên hiệp Anh và Ireland|George III]]
| mother = [[Charlotte xứ Mecklenburg-Strelitz]]
| sinh = {{birth date|1765|8|21|df=y}}
| nơi sinh = [[Cung điện Buckingham|Buckingham House]], [[Luân ĐônLondon]]
| mất = {{Deathdeath date and age|1837|6|20|1765|8|21|df=yes}}
| nơi mất = [[Lâu đài Windsor]], [[Berkshire]]
| nơi an táng = [[St.8 George'stháng Chapel at Windsor Castle|St. George's Chapel7]], [[Windsor, Berkshire|Windsor1837]]
| nơi an táng = [[Nhà nguyện St George, Lâu đài Windsor|St George's Chapel]], [[Windsor, Berkshire|Windsor]]
| nghề nghiệp = Sĩ quan Hải quân
| chữ kýsignature = William IV Signature.svg
| occupation = Hải quân
| religion = [[Giáo hội Anh|Anh giáo]]
}}
'''William IV''' ('''William Henry'''; [[21 tháng 8]] năm [[1765]] – [[20 tháng 6]] năm [[1837]]) là [[Vua|Quốc vương]] của [[Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland|Anh]], [[Cộng hòa Ireland|Ái Nhĩ Lan]] và [[Hannover|Hanover]] từ ngày [[26 tháng 6]] năm [[1830]] cho tới khi [[chết|qua đời]]. William, người con thứ ba của [[George III của Anh|George III]] đồng thời là em của [[George IV của Anh|George IV]], là vị vua áp chót của [[nhà Hanover]].
 
'''William IV''' (William Henry; [[21 tháng 8]], [[1765]]&nbsp;– [[20 tháng 6]], [[1837]]) là Vua của [[Liên hiệp nước Anh thống nhất và Ireland]] và [[Vua của Hanover|Vua của Hanover]] từ [[26 tháng 6]] năm [[1830]] cho đến khi ông qua đời. Là đệ tam tử của [[George III của Liên hiệp Anh và Ireland|George III]] và là em trai và người thừa kế của vua [[George IV của Liên hiệp Anh và Ireland|George IV]], ông là vị vua cuối cùng và áp chót của nhà Hanover ở Anh quốc.
Ông làm sĩ quan của [[Hải quân Hoàng gia Anh]] cả cuộc đời, nên có biệt hiệu là "Ông vua lính thủy".<ref>Staff write (ngày 25 tháng 1 năm 1832). "Scots Greys". ''[[The Times]]'': p. 3. "...they will have the additional honour of attending our "Sailor King"..."</ref><ref>Staff write (ngày 29 tháng 6 năm 1837). "Will of his late Majesty William IV". ''[[The Times]]'': p. 5. "...ever since the accession of our sailor King..."</ref> Ông hoạt động tại [[Bắc Mỹ]] và [[Vùng Caribe|Caribe]], nhưng ít khi trực tiếp giao chiến. Sau khi hai người anh trai ông mất mà không có con nối dõi, William lên ngôi vua ở tuổi tuổi 64. [[Triều đại]] của ông cho thấy nhiều cải cách: [[luật tế bần]] (''poor law'') được ban hành, [[lao động trẻ em]] (''child labour'') bị hạn chế, [[Đạo luật bãi bỏ chế độ chiếm hữu nô lệ 1833|chế độ chiếm hữu nô lệ]] bị bãi bỏ trên hầu hết [[Đế quốc Anh]], và [[Đạo luật cải tổ 1832]] đã thay đổi hình thức của chế độ bầu cử Anh quốc. Dù William không tham gia vào [[chính trị]] nhiều như cha và anh, ông là vị vua cuối cùng bổ nhiệm [[Thủ tướng]] trái với ý muốn của [[Quốc hội]]. Thông qua [[Ông hoàng Adolphus, Công tước xứ Cambridge|người emtrai]], [[phó vương]] xứ [[Hannover|Hanover]], William đã phê chuẩn một hiến pháp tự do, mặc dù [[hiến pháp]] này tồn tại rất ngắn ngủi.
 
William phục vụ trong [[Hải quân hoàng gia]] vào thời trẻ và có thường được gọi, cả trong và sau thời gian cai trị, với biệt danh là "Ông vua lính thủy".<ref>{{cite news | title = Scots Greys | last = Staff writer | date = 25 January 1831 |work=The Times | location = UK | page = 3 | quote = ...they will have the additional honour of attending our "Sailor King"... }}</ref><ref>{{cite news | title = Will of his late Majesty William IV | last = Staff writer | date = 29 June 1837 |work=The Times | location = UK | page = 5 | quote = ...ever since the accession of our sailor King... }}</ref> Ông từng đóng quân ở [[Bắc Mỹ]] và [[Caribbean]]. Năm [[1789]], ông được tấn phong [[Công tước Clarence và St Andrews]]. Bởi vì hai vị hoàng huynh đều chết mà không còn một người con hợp pháp nào, nên chiếu theo Đạo luật Kế vị, William lên kế vị ngai vàng khi đã 64 tuổi. Triều đại của ông chứng kiến nhiều cải cách: the [[luật tế bần]] được ban hành, [[lao động trẻ em]] bị hạn chế, [[Đạo luật bãi bỏ chế độ nô lệ 1833|chế độ nô lệ bị bãi bỏ]] gần như trong toàn bộ [[đế quốc Anh]], và hệ thống bầu cử ở Anh được điều chỉnh lại bởi [[Đạo luật cải cách 1832]]. Mặc dù William không tham gia vào chính trị nhiều như hoàng phụ và hòng huynh, nhưng ông là vị quân vương cuối cùng ở Anh cho đến hiện nay bổ nhiệm thủ tướng trái với ý muốn của Nghị viện. Thông qua hoàng đệ là [[Hoàng tử Adolphus, Công tước Cambridge]], [[phó vương]] của Hanover, ông ban cho tiểu vương quốc Đức này một bản hiến pháp tồn tại ngắn ngủi.
 
Đến khi băng hà William không có bất kì người con hợp pháp nào để kế vị, dù cho ông có tới 8 trên 10 đứa con sống sót với tình nhân [[Dorothea Jordan]], người chung sống với ông hơn 20 năm. Ngai vàng Anh được kế vị bởi cô cháu gái họ của ông, [[Nữ hoàng Victoria|Victoria]], trong khi ở Hanover theo đạo luật bán Salic, thì ngôi vua thuộc về người em trai thứ 5, [[Ernest Augustus I của Hanover|Ernest Augustus]].
 
== Cuộc sống ban đầu ==
William chào đời vào rạng sáng ngày [[21 tháng 8]] năm [[1765]] tại [[Cung điện Buckingham|Buckingham House]], là hoàng tử thứ ba của vua [[George III của Liên hiệp Anh và Ireland|vua George III]] với [[Charlotte xứ Mecklenburg-Strelitz|Vương hậu Charlotte]].<ref>Ziegler, tr. 12.</ref> Trên ông là hai hoàng huynh, [[George IV của Liên hiệp Anh và Ireland|George]] và [[Hoàng tử Frederick, Công tước xứ York|Frederick]], do đó ông không có nhiều cơ hội bước lên ngai vàng. Ông được rửa tội tại Đại sảnh của [[Cung điện St James]] ngày [[20 tháng 9]] năm [[1765]]. Những người đỡ đầu của ông bao gồm các hoàng thúc, [[Hoàng tử William Henry, Công tước Gloucester và Edinburgh|Công tước Gloucester]] và [[Prince Henry, Công tước Cumberland và Strathearn|Hoàng tử Henry]] (về sau là Công tước Cumberland), và các hoàng cô, [[Công chúa Augusta của Liên hiệp Anh|Công chúa Augusta]], sau đó là nữ công tước thừa kế của Brunswick-Wolfenbüttel.<ref>{{cite web | url = http://users.uniserve.com/~canyon/christenings.htm#Christenings | title = Yvonne's Royalty Home Page: Royal Christenings }}</ref>
[[File:Prince William and Prince Edward 1778.jpg|thumb|upright|left|William tuổi 13 (bên trái) và em trai ông [[Hoàng tử Edward, Công tước xứ Kent vaf Strathearn|Edward]], được vẽ bởi [[Benjamin West]], 1778]]
Phần lớn thời thơ ấu ông sống tại [[Richmond, London|Richmond]] và [[Cung điện Kew]], nơi ông được giáo dục bởi các gia sư.<ref>Ziegler, tr. 13–19.</ref> Năm lên 13, ông tham gia vào [[Hải quân hoàng gia]] với cương vị [[chuẩn úy hải quân]],<ref>Ziegler, tr. 23–31.</ref> và có mặt tại [[Trận Cape St. Vincent (1780)|trận chiến Cape St Vincent]] năm [[1780]].<ref>Allen, tr. 29 and Ziegler, tr. 32.</ref> Những kinh nghiệm học được khi tham gia hải quân của ông dường như có không nhiều khác biệt so với các chuẩn úy khác, mặc dù có điểm trái ngược với họ là ông thường được đi kèm bởi một người giám hộ. Ông được chia nhiệm vụ nấu ăn<ref>Ziegler, tr. 29.</ref> và từng bị bắt cùng với một thủy thủ chung tàu sau vụ ẩu đả vì say rượu ở [[Gibraltar]]; ông được lập tức thả ra khỏi nhà giam sau khi danh tính của ông được người ta biết tới.<ref>Ziegler, tr. 33.</ref>
 
Ông phục vụ tại New York trong thời kì [[Cách mạng Mỹ|Chiến tranh giành độc lập Bắc Mỹ]]. Trong khi Williamở Mỹ, [[George Washington]] đã phê chuẩn một [[âm mưu]] bắt có ông, viết rằng: "Lòng nhiệt tình đến táo bạo rất dễ thấy được trong kế hoạch của anh sẽ gây bất ngờ cho bọn chúng và (anh) sẽ được khen ngợi vì công lao bắt được Hoàng tử William Henry và [[Robert Digby (đô đốc)|Đô đốc Digby]]; và anh sẽ được sự ủy quyền của tôi để thực hiện việc này bằng bất cứ cách nào, và tại bất cứ thời điểm nào, theo sự phán đoán của anh. Tôi thực sự bị thuyết phục hoàn toàn, rằng không cần thiết để cảnh cáo anh chống lại sự xúc phạm hay sỉ nhục đối với bản thân Hoàng tử hay Đô đốc..."<ref>George Washington viết cho Đại tá Ogden, [[28 tháng 3]], [[1782]], trích dẫn trong Allen, tr. 31 và Ziegler, tr. 39.</ref> Kế hoạch rốt cục không thành công; người Anh biết được thông tin và cử người bí mật bảo vệ William, khi đó ông đang đi bộ vòng quanh New York mà có ai hộ ống.<ref>Allen, tr. 32 và Ziegler, tr. 39.</ref>
 
Ông được thăng làm trung úy năm [[1785]] và [[đại úy (hải quân)|đại úy]] của {{HMS|Pegasus|1779|6}} và năm sau.<ref>Ziegler, tr. 54–57.</ref> Cuối năm [[1786]], ông đóng quân ở [[Tây Ấn]] thuộc quyền quản lí của [[Horatio Nelson]], người viết về William như sau: "Trong sự chuyên nghiệp của anh ta, anh ta đứng trên hai phần ba, tôi chắc chắn, trong danh sách [[hải quân]]; và trong tư thế trang nghiêm đúng nội quy và sự kính trọng của anh ta đối với sĩ quan cấp trên, tôi hầu như không thể sánh bằng."<ref>Ziegler, tr. 59.</ref> Hai người là bạn thân của nhau, và cùng ăn tối hầu như hàng đêm. Tại lễ cưới của Nelson, William khăng khăng đòi hộ tống [[Frances Nelson|cô dâu]].<ref>Somerset, tr. 42.</ref> Ông được chỉ huy con tàu khu trục {{HMS|Andromeda|1784|6}} năm [[1788]], và được thăng [[Đô đốc|hậu đô đốc]] chỉ huy {{HMS|Valiant|1759|6}} vào năm sau.<ref name="ma">{{cite book | last = Ashley | first = Mike | title = The Mammoth Book of British Kings and Queens | publisher = Robinson | location = London | year = 1998 | pages = 686–687 | isbn = 978-1-84119-096-9 }}</ref>
 
William tìm cách để được trở thành một [[công tước]] như hai hoàng huynh của ông, và nhận được một khoản trợ cấp từ Nghị viện tương tự họ, nhưng phụ hoàng của ông không muốn như vậy. Để gây áp lực, William đe dọa đứng về phía phe đối lập trong [[Hạ viện Anh|Viện Thứ dân]] trong cuộc bầu cử ở Devon. Lo sợ trước viễn cảnh con trai mình nói xấu mình với những người bỏ phiếu, George III tấn phong ông làm [[Công tước Clarence và St Andrews]] và [[Bá tước Munster]] ngày [[16 tháng 5]], [[1789]],<ref>Ziegler, tr. 70.</ref> nói rằng: "Tôi cũng biết đó là một lá phiếu khác cho phe đối lập."<ref>Hồi kí của [[Sir Nathaniel Wraxall, Nam tước thứ nhất]], tr. 154 trích dẫn trong Ziegler, tr. 89.</ref> Quan điểm chính trị William thường mâu thuẫn, giống như nhiều chính khách thời điểm đó, có thể không hoàn toàn ủng hộ một đảng duy nhất. Ông công khai liên minh với đảng [[Whigs (Đảng chính trị Anh)|Whigs]] cũng như anh trai ong George, Hoàng tử xứ Wales, và Frederick, Công tước York, những người nổi tiếng với sự xung đột về quan điểm chính trị với phụ thân họ.<ref>Allen, tr. 46 and Ziegler, tr. 89–92.</ref>
 
== Thăng chức và tham chính ==
Khi qua đời William không có con hợp pháp, dù ông có 10 đứa con ngoài giã thú (8 người còn sống khi ông mất) với diễn viên [[Dorothy Jordan]], người đã ăn ở với nhà vua 20 năm. Ông đã được cháu gái là [[Victoria của Anh|Victoria]] kế vị ở Anh, trong khi em ông là [[Ernest Augustus I của Hanover|Ernest Augustus]] kế vị ở Hanover.
[[File:William IV by Sir Martin Archer Shee.jpg|thumb|left|upright|William trong bộ đồng phục, vẽ bởi Sir Martin Archer Shee, c.1800]]
 
== Chú thích ==