Khác biệt giữa các bản “Bát Nhĩ Tế Cát Đặc Tĩnh phi”

không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
| place of birth = [[Tongliao|Horqin]], [[Inner Mongolia|Mongolia]]
| date of death = {{Death date and age|1855|8|21|1812|6|19|df=y}}
| place of death =[[Trữ Tú cung]],[[Thọ Khang cung]], [[Bắc Kinh]]
| date of burial =
| place of burial =
| spouse = [[Đạo Quang]]
| issue = Thuận Hòa quận vương [[Dịch Cương]] [奕綱]<br>Tuệ Chất quận vương [[Dịch Kế]] [奕繼]<br>Cung Trung thân vương [[Dịch Hân]] [奕訢]<br/>[[Cố Luân Thọ Ân công chúa]]
| issue = Hàm Phong đế[[Dịch Trữ]] [奕繼]
| posthumous name = Hiếu Tĩnh Khang Từ Ý Chiêu Đoan Huệ Trang Nhân Hòa Thận Bật Thiên Phủ Thánh Thành hoàng hậu<br>(孝靜康慈懿昭端惠庄仁和慎弼天撫聖成皇后)
| father = [[Hoa Lương A]] (花良阿)
'''Khang Từ hoàng thái hậu''' ([[chữ Hán]]: 康慈皇太后, [[19 tháng 6]], [[1812]] - [[21 tháng 8]], [[1855]]), là [[Hoàng quý phi]] của [[Thanh Tuyên Tông]] Đạo Quang hoàng đế, và là [[Hoàng thái hậu]] trong 8 ngày trước khi qua đời dưới triều đại [[Thanh Văn Tông]] Hàm Phong hoàng đế. Sau khi qua đời, bà được truy tôn [[thụy hiệu]] là '''Hiếu Tĩnh Thành hoàng hậu''' (孝静成皇后).
 
Bà là mẹdưỡng ruộtmẫu của Hàm Phong Đế, mẹ nuôiruột của Cung thân vương [[Dịch Hân]] [奕訢], người rất có ảnh hưởng chính sự dưới thời [[Từ Hi thái hậu]] nhiếp chính.
 
Bà chưa từng là Hoàng hậu và cũng như không có người con trai nào đăng cơ để tôn phong. Thụy hiệu Hoàng hậu của bà được truy phong bởi Hàm Phong Đế, khi ông đã tôn phong bà làm [[Hoàng thái hậu]] dưới thời trị vì của ông. Đây là trường hợp độc nhất vô nhị của triều đại Mãn Thanh.
 
== Tiểu sử ==
Hiếu Tĩnh hoàng hậu sinh trưởng trong dòng tộc [[Bột Nhi Chỉ Cân|Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị]] (博尔济吉特氏), thuộc bộ tộc [[Khoa Nhĩ Thẩm]] (科尔沁) của [[Mông Cổ]] và có quan hệ huyết thống với [[Hiếu Trang Văn Hoàng hậu]]. Cha là [[Hoa Lương A]] (花良阿), làm đến chức [[Viên ngoại lang]] [[Bộ Hình]]. Tên thật của bà không được sử sách ghi lại.
 
Bà nhập cung dưới thời Đạo Quang Đế và trở thành cung tần của ông, phong tước hiệu '''Tĩnh quý nhân''' (静贵人). Ngày [[22 tháng 11]], năm [[1826]], bà sinh con trai thứ hai của Đạo Quang, [[Dịch Cương]] (奕綱) và sau đó được phong thành '''Tĩnh tần''' (静嫔).
 
Năm [[1827]], hoàng tử qua đời sớm, bà được phong làm '''Tĩnh phi''' (静妃). Năm [[1833]], bà sinh ra con trai thứ 6 của Đạo Quang là [[Dịch Hân]] (奕訢), người sau này trở thành ''Cung thân vương''. Trong [[tháng 12]], năm [[1835]], bà lại được nâng lên thành '''Tĩnh Quý phi''' (静贵妃).
 
Năm [[1840]], sau khi [[Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu]] Nữu Hỗ Lộc thị đột ngột qua đời ở tuổi 31, Tĩnh Quý phi được ban quyền quản lí hậu cung và được sắc phong thành [[Hoàng quý phi]]. Đạo Quang Đế đau buồn quá độ vì cái chết của Hoàng hậu, kiên trì không lập Hoàng hậu kế nhiệm nữa.
 
Nữu Hỗ Lộc hoàng hậu chỉ sinh hạ duy nhất 1 người con trai, Tứ hoàng tử '''Dịch Trữ''' (奕詝), Hoàng quý phi được giao phó nuôi dạy và bảo ban hoàng tử. Hoàng tử Dịch Hân và Dịch Trữ được cùng nuôi dạy bởi Hoàng quý phi, sáng đêm cùng ăn cùng ngủ mà gắng bó như anh em ruột thịt.
 
[[Tập tin:《雍宫式范》静妃部分.jpg|thumb|left|Bát Nhĩ Tế Cát Đặc hoàng quý phi]]
 
== Hoàng thái hậu ==
Năm [[1850]], Đạo Quang hoàng đế băng hà, Tứ hoàng tử Dịch Trữ lên nối ngôi, tức [[Thanh Văn Tông]] Hàm Phong hoàng đế. Bà được sắc phong '''Hoàng khảo Khang Từ Hoàng Quý Thái hậuphi''' (康慈皇贵太妃).
 
Với tư cách là trưởng bối trong hậu cung, bà nắm cương vị như một [[Hoàng thái hậu]] và việc tuyển chọn phi tần cho Hàm Phong đế, trong đó có [[Từ An thái hậu]] và [[Từ Hi thái hậu]] sau này. NgàyTuy [[21không thángphải 8]], tứcmẹ 8ruột nămnhưng sauHàm khiPhong sắcvẫn phongkính thìtrọng quaquý đời,mến hưởng thọ 43 tuổi.
 
Vào ngày [[13 tháng 8]], năm [[1855]], Hoàng quý thái phi bị bệnh rất nặng, Hàm Phong Đế đích thân di giá đến cung của bà để thăm, đúng lúc đó Cung Thân vương Dịch Hân ở đó. Do thấy bà cầu khẩn luôn miệng muốn tôn làm ''Hoàng thái hậu'', Hàm Phong Đế đã tùy nhiên truyền khẩu dụ và Cung thân vương đã truyền cho Nội vụ phủ thảo chiếu sách lập Thái phi làm Hàm Phong Đế, tôn lên thành ''Khang Từ Hoàng thái hậu'' (康慈皇太后). Ngày [[21 tháng 8]], tức 8 ngày sau khi sắc phong thì bà qua đời, hưởng thọ 43 tuổi.
 
== Thụy hiệu ==
Hai năm sau, bà được an táng tại [[Thanh Tây lăng]] cùng với Đạo Quang Đế, được ban thụy hiệu '''Hiếu Tĩnh Hoàng hậu''' (孝静皇后), bỏ đi chữ ''Thành'' (成) để phân biệt với các Hoàng hậu trước của Đạo Quang . Dưới thời [[Hàm Phong]] đã truy tônhụy hiệu của bà thành '''Hiếu Tĩnh Thành Hoàng hậu''' (孝静成皇后). Dười thời [[Quang Tự]], thụy hiệu của bà đầy đủ là '''Hiếu Tĩnh Khang Từ Ý Chiêu Đoan Huệ Trang Nhân Hòa Thận Bật Thiên Phủ Thánh Thành hoàng hậu''' (孝静康慈懿昭端惠莊仁和慎弼天抚圣成皇后)Đế.
 
Sau đó, dưới thời [[Đồng Trị]], con trai út của bà là Cung thân vương [[Dịch Hân]] (奕訢) đã cầu khẩn đổi thụy hiệu của bà thành '''Hiếu Tĩnh Thành Hoàng hậu''' (孝静成皇后). Dười thời [[Quang Tự]], thụy hiệu của bà đầy đủ là '''Hiếu Tĩnh Khang Từ Ý Chiêu Đoan Huệ Trang Nhân Hòa Thận Bật Thiên Phủ Thánh Thành hoàng hậu''' (孝静康慈懿昭端惠莊仁和慎弼天抚圣成皇后).
 
== Hậu duệ ==
Hiếu Tĩnh Thành hoàng hậu Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị có 14 người con, duy3 hoàng tử và 1 nhấtcông chúa:
# Hoàng tứnhị tử [[Hàm Phong|Dịch TrữCương]] [奕綱; [[1722 tháng 711]] , [[18311826]] - [[225 tháng 83]], [[18611827]]], con trai thứ 42 của [[Thanh Tuyên Tông]]. Truy thụy làm ''Thuận Hòa quận vương'' (顺和郡王).
# Hoàng tam tử [[Dịch Kế]] [奕繼; [[2 tháng 12]], [[1829]] - [[22 tháng 1]], [[1830]]], con trai thứ 3 của Thanh Tuyên Tông. Truy thụy làm ''Tuệ Chất quận vương'' (慧质郡王).
#
# [[Cố Luân Thọ Ân công chúa]] [固倫壽恩公主; [[7 tháng 12]], [[1830]] - [[13 tháng 4]], [[1859]]], con gái thứ 6 của Thanh Tuyên Tông, sơ phong ''Hòa Thạc công chúa'' (和碩公主). Năm [[1844]], hạ giá [[Cảnh Thọ]] (景寿) của tộc Phú Sát, tấn phong ''Cố Luân công chúa'' (固倫公主).
# Hoàng lục tử [[Dịch Hân]] [奕訢; [[11 tháng 1]], [[1833]] - [[29 tháng 5]], [[1898]]], con trai thứ 6 của Thanh Tuyên Tông. Một hoàng thân có vai trò quan trọng dưới thời [[Từ Hi thái hậu]]. Sau khi mất, truy thụy là ''Cung Trung thân vương'' (恭忠亲王).
 
==Tham khảo==
Người dùng vô danh