Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
không có tóm lược sửa đổi
Tàu vũ trụ '''''Voyager 2''''' là một [[thiết bị vũ trụ|tàu vũ trụ]] [[Sứ mệnh vũ trụ không người lái|không người lái]] [[liên hành tinh]] được phóng đi ngày 20 tháng 8 năm 1977. Cả tàu vũ trụ ''Voyager 2'' và ''[[Voyager 1]]'' đều được thiết kế, phát triển, và chế tạo tại [[Jet Propulsion Laboratory]] gần [[Pasadena, California]]. Tương tự về hình thức và thiết bị với tàu chị em trong [[Chương trình Voyager]] của mình là ''[[Voyager 1]]'', ''Voyager 2'' được phóng đi với một quỹ đạo thấp và cong hơn, cho phép nó được giữ trong mặt phẳng [[Hoàng Đạo]] (mặt phẳng của [[Hệ Mặt Trời|Hệ mặt trời]]) để nó có thể tới được [[Sao Thiên Vương]] và [[Sao Hải Vương]] nhờ sử dụng [[hỗ trợ hấp dẫn]] khi nó bay qua [[Sao Thổ]] năm 1981 và Sao Thiên Vương năm 1986. Vì quỹ đạo được lựa chọn này, ''Voyager 2'' không thể tiếp cận gần với Mặt Trăng lớn của Sao Thổ là [[Titan (vệ tinh)|Titan]] như con tàu chị em của mình. Tuy nhiên, ''Voyager 2'' thực sự đã trở thành tàu vũ trụ đầu tiên và duy nhất bay qua Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, và vì thế đã hoàn thành [[Đại Du Hành Liên Hành Tinh]]. Đây là sự kiện diễn ra bởi một sự sắp xếp thẳng hàng hiếm gặp của các hành tinh bên ngoài (176 năm mới xảy ra một lần).<ref>[http://voyager.jpl.nasa.gov/science/planetary.html Planetary Voyage] [[NASA]] [[Jet Propulsion Laboratory]] - California Institute of Technology. ngày 23 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2007.</ref>
 
Tàu vũ trụ ''Voyager 2'' đã thực hiện chuyến bay không người lái có hiệu quả nhất, tới thăm toàn bộ bốn hành tinh phía ngoài và các hệ Mặt Trăng cùng vành đai của chúng, gồm cả hai chuyến thăm đầu tiên tới [[Sao Thiên Vương]] và [[Sao Hải Vương]] chưa từng được khám phá. ''Voyager 2'' có hai camera cảm ứng vidicon và một bộ thiết bị khoa học khác để tiến hành đo đạc trong các chiều dài sóng [[tử ngoại|cực tím]], [[tia hồng ngoại|hồng ngoại]], và radio, cũng như để đo các [[phần tử dưới nguyên tử]] trong không gian bên ngoài, gồm cả các [[bức xạ vũ trụ|tia vũ trụ]]. Tất cả các công việc này đã được hoàn thành với chi phí chỉ bằng một phần lượng tiền sau này được chi cho các tàu vũ trụ tiên tiến và chuyên biệt hơn như ''[[Galileo (tàu vũ trụ)|Galileo]]'' và ''[[Cassini–Huygens|Cassini-Huygens]]''.<ref>[http://burro.astr.cwru.edu/stu/advanced/20th_far_voyagers.html Case Western Reserve University: "Voyagers (1977-present)"]</ref><ref>[http://burro.astr.cwru.edu/stu/advanced/20th_far_galileo.html Case Western Reserve University: "Galileo (1989-2003)"]</ref> Cùng với các tàu vũ trụ trước đó của NASA như ''[[Pioneer 10]]'' và ''[[Pioneer 11]]'', tàu chị em ''[[Voyager 1]]'', và một con tàu gần đây hơn là ''[[New Horizons]]'', ''Voyager 2'' là một [[tàu vũ trụ liên sao]] và tất cả hnămnăm tàu hiện đều đang trên quỹ đạo rời khỏi Hệ mặt trời.
 
== Hồ sơ phi vụ ==
''Voyager 2'' ban đầu được sắp đặt kế hoạch để trở thành ''Mariner 12'', một sự mở rộng của các tàu vũ trụ thuộc [[Chương trình Mariner|chương trình ''Mariner'']].
 
Tàu vũ trụ ''Voyager 2'' được phóng đi ngày 20 tháng 8 năm 1977, từ [[Mũi Canaveral]], [[Florida]], [[Hoa Kỳ]] trên một [[tên lửa phóng]] [[Titan IIIE]]/[[Centaur (tên lửa)|Centaur]], trong một phi vụ hoàn mỹ không gặp bất kỳ trở ngại nào vào đúng quỹ đạo. Một số tuần sau, những người điều khiển mặt đất của chương trình Voyager gặp phải một vấn đề sau lần phóng đầu tiên với ''Voyager 1'', và họ quên gửi mã nguồn nâng cấp quan trọng cho ''Voyager 2''. (Các tàu vũ trụ này đã được lập trình để chờ một thông điệp radio theo một số dạng từ [[Mạng Lưới Không Gian Sâu]] ít nhất mỗi lần một tuần để kiểm tra xem các hệ thống radio của chúng còn hoạt động hay không.) Sai sót này trong việc nhận tín hiệu radio khiến ''Voyager 2'' tắt thiết bị nhận radio chính của nó và chuyển sang sử dụng thiết bị nhận dự phòng tương tự, với một hư hỏng nhẹ. Trong quá trình bật tắt chuyển giữa hai máy thu nhận trong vài lần, một cầu chì trong nguồn cấp điện một chiều của máy thu chính bị nổ, làm nó ngừng hoạt động vĩnh viễn. Vì thế từ thời điểm đó về sau toàn bộ phi vụ phải dựa vào máy thu dự phòng.
 
May thay, sau khi đợi thêm một tuần, ''Voyager 2'' tự động bật máy thu radio dự phòng một lần nữa, và các kỹ sư radio thuộc Mạng Lưới Không Gian Sâu đã có thể thiết lập lại tiếp xúc thông qua máy thu radio dự phòng của tàu vũ trụ. Máy thu radio này từ đó trở nên "khó tính", nhưng nó đã được "chăm sóc" về mặt kỹ thuật, và không bao giờ hư hỏng. Tương tự, theo định kỳ, các tập tin tiến trình để ''Voyager 2'' tuân thủ trong tương lai được tải lên thông qua Mạng Lưới Không Gian Sâu để trao cho ''Voyager 2'' một kế hoạch đại cương về những nhiệm vụ phải thực hiện trong vài tháng, trong trường hợp máy thu radio hư hỏng vĩnh viễn, làm mất mọi liên lạc từ Trái Đất đến ''Voyager 2''.<ref>Các chi tiết của các vấn đề với các máy thu nhận radio của tàu vũ trụ ''Voyager 2'' được ghi chép tỉ mỉ trong các cuốn sách viễn thông vũ trụ của Hoa Kỳ, như các tạp chí như "Scientific American" và "Discover", được xuất bản về chương trình ''Voyager'' và được viết bởi NASA và được in và bán bởi Phòng In ấn Chính phủ Hoa Kỳ, trong các tạp chí kỹ thuật điện được xuất bản bởi [[IEEE]], và khác. Tôi không có bất kỳ một ấn bản nào hiện nay, nhưng thông tin rất trái ngược và rất nhiều. Bất kỳ ai quan tâm đều được hoan nghênh nghiên cứu tại các địa điểm ở trên để xem xét sự kiện theo quan điểm của chính mình. Vấn đề với máy thu radio dự phòng trong</ref>
Máy tính điều khiển bay mất phương hướng của ''Voyager 2'' tiếp tục bị ngắt khỏi các tên lửa điều chỉnh mạnh của ''Voyager'' ở thời điểm đó, vì thế nó không gây ra thiệt hại cho vụ phóng trong thời gian phóng. Hệ thống điều khiển tư thế của Centaur tiếp tục chịu trách nhiệm, không gặp phải hiện tượng "mất thăng bằng" và, theo đúng kế hoạch, đã sửa chữa sự mất thăng bằng này của máy tính của ''Voyager'' ngay trước khi tách nhau.
 
Từ trung tâm điều khiển tàu vũ trụ, các kỹ sư và kỹ thuật viên quan sát một cách bất lực những trò hề của chiếc máy tính đã mất phương hướng của ''Voyager 2''. Một giờ 11 phút sau vụ phóng, tên lửa nhiên liệu rắn của riêng ''Voyager 2'' hoạt động trong 45 giây, để tăng [[động lượng]] lần cuối cho nó để đủ sức tới Sao Mộc.
 
Một và một nửa phút sau khi tên lửa chính của ''Voyager 2'' ngừng hoạt động, cánh tay khớp nối dài ba mét giữ camera và các thiết bị cảm biến từ xa khác mở ra và hoạt động theo kế hoạch. Sau đó, máy tính của ''Voyager 2'' một lần nữa cảm thấy tình trạng khẩn cấp vì một số lý do. Lần này chuyển sang một bộ điều khiển khác và kích hoạt các van để kiểm soát các luồng khí phụt nhỏ để ổn định tư thế của nó trong vũ trụ. "Người bạn ruột" rôbốtrobot của ''Voyager 2'' (chương trình điều khiển của nó) sau đó nghi ngờ một số phần của máy tính trong một nỗ lực điên rồ nhằm sửa chữa sự sai hướng mà nó phát hiện ra.
 
Ở thời điểm này, ''Voyager 2'' sau các quy trình thông thường mà các kỹ sư của [[Jet Propulsion Laboratory]] đã cài đặt trên máy tính để giải quyết các tình trạng khẩn cấp cho tàu vũ trụ rôbốtrobot trong không gian xa—mất phương hướng điều khiển tư thế. ''Voyager 2'' tắt hầu hết liên lạc với Trái Đất nhằm bắt đầu chỉnh lại hướng.
 
Bảy mươi phút trôi qua trong khi ''Voyager 2'' tự mình tìm kiếm Mặt trời với một cảm biến để thiết lập một điểm hướng. Cuối cùng ''Voyager 2'' phát sóng radio về phía Trái Đất thông báo rằng nó đã hoạt động bình thường. Tới thời điểm này ta vẫn không biết liệu các cảm biến dày đặc trên đó có hoạt động sai không, hay các máy tính số trên tàu đã hư hỏng.
8

lần sửa đổi