Khác biệt giữa các bản “Minh Tuyên Tông”

n
AlphamaEditor, thêm thể loại, Executed time: 00:00:19.0950000
(→‎Tham khảo: AlphamaEditor, Restructure category + change Thể loại:Mất 1435 by Thể loại:Mất năm 1435, Executed time: 00:00:00.2808005 using AWB)
n (AlphamaEditor, thêm thể loại, Executed time: 00:00:19.0950000)
| nơi an táng = Cảnh lăng (景陵)
}}
'''Minh Tuyên Tông''' ([[chữ Hán]]: 明宣宗, [[25 tháng 2]], [[1398]] – [[31 tháng 1]], [[1435]]), là vị [[hoàng đế]] thứ 5 của triều đại [[nhà Minh]] trong [[lịch sử Trung Quốc]]. Ông trị vì từ năm [[1425]] đến [[1435]], tổng cộng 10 năm. Trong suốt thời đại của mình, ông chỉ dùng 1 [[niên hiệu]] là ''Tuyên Đức'' (宣德), nên sử gia thường gọi ông là '''Tuyên Đức Đế''' (宣德帝).
 
Ông kế vị và ở ngôi trong một thời kì thịnh trị của Đại Minh. Thời đại của ông và cha ông, [[Minh Nhân Tông]] Hồng Hi hoàng đế được sử gia đời sau xưng tụng là [[Nhân Tuyên chi trị]] (仁宣之治).
 
== Thời trẻ ==
Tuyên Đức hoàng đế có tên thật là '''Chu Chiêm Cơ''' (朱瞻基), sinh ngày [[25 tháng 2]] năm [[1398]] tại Bắc Bình ([[Bắc Kinh]] sau này). Ông là con trai trưởng của [[Minh Nhân Tông]] Hồng Hi hoàng đế, mẹ là [[Thành Hiếu Chiêu hoàng hậu]] Trương thị, người [[Hà Nam]], con gái của đại thần [[Trương Kỳ]] (张麒). Ngay từ khi còn nhỏ, Tuyên Đức rất say mê [[thơ]] [[phú]] và [[văn học]].
 
Năm [[1417]], dưới thời ông nội [[Minh Thành Tổ]] Vĩnh Lạc hoàng đế, Chu Chiêm Cơ được tấn phong ''Hoàng thái tôn'' (皇太孫). Đến khi Nhân Tông Hồng Hi Đế lên ngôi vào ngày [[7 tháng 9]] năm [[1424]], ông trở thành [[Hoàng thái tử]].
 
Năm [[1425]], ngày [[29 tháng 5]], Nhân Tông Hồng Hi hoàng đế băng hà, Thái tử Chu Chiêm Cơ kế vị. Ông đã quyết định chọn [[Bắc Kinh]] là kinh đô cho đất nước [[Trung Hoa]].
 
== Trị vì ==
Năm [[1426]], [[tháng 8]], chú ông là Hán Vương [[Chu Cao Hú]] (朱高煦) làm loạn. Hán vương vốn là người con trai được [[Minh Thành Tổ]] Vĩnh Lạc hoàng đế yêu quý do có công cứu giá; nhưng do bất chấp quân pháp nên năm [[1417]] đã bị đày tới một thái ấp nhỏ ở Lạc An (Quảng Nhiêu, [[Sơn Đông]]). Khi Chu Cao Hú làm loạn, Tuyên Tông hoàng đế đã đem 20.000 quân tấn công ông ta tại Lạc An. Chu Cao Hú bị phế làm thứ nhân và chết do bị tra tấn. Sáu trăm quan lại theo Hán Vương cũng bị tử hình và 2.200 người khác bị lưu đày.
 
Tuyên Đức cũng là người hay tham khảo ý kiến các đại thần như [[Dương Sĩ Kì]], [[Dương Vinh]]. Ông cũng là người chủ trương rút quân khỏi [[Việt Nam|Giao Chỉ]], do khi đó họ đang bị sa lầy tại đây, với việc sửa đổi chính sách thảo phạt của thời kỳ Vĩnh Lạc thành chính sách hưu binh dưỡng dân, nhưng một số các đại thần của ông không đồng ý. Sau khi binh lính nhà Minh chịu nhiều tổn thất và thương vong, Tuyên Đức đã cho [[Liễu Thăng]] đem quân sang cứu trợ; nhưng đội quân này cũng bị đánh bại, Liễu Thăng, [[Lương Minh]] và khoảng 70.000 quân bại vong vào năm [[1427]]. Sau đó Quân đội nhà Minh phải rút lui khỏi quận Giao Chỉ và Tuyên Đức buộc phải công nhận quyền độc lập của người Việt.
 
Tại phía Bắc, Tuyên Tông đã đi tuần thú biên giới với 3.000 kị binh vào năm [[1428]] và đã trừng phạt những kẻ cướp bóc từ Bộ lạc [[Uriyangkhad]] [[Mông Cổ]]. Người Hán cho phép những người Mông Cổ miền đông theo [[Arughtai]] đánh nhau với các bộ lạc [[Oirat]] của [[Toghon]] ở phía tây. Bắc Kinh hàng năm nhận ngựa từ Arughtai; nhưng ông ta đã bị người Oirat đánh bại vào năm [[1431]] và bị giết năm [[1434]] khi Toghon chiếm được miền Đông Mông Cổ. Triều đình nhà Minh sau đó duy trì quan hệ hữu hảo với người Oirat. Quan hệ ngoại giao với [[Nhật Bản]] cũng được cải thiện vào năm [[1432]]. Các quan hệ với [[Triều Tiên]] cũng tốt, ngoại trừ việc họ không đồng ý với việc phải gửi các thiếu nữ đồng trinh để sung vào hậu cung nhà Minh. Tuyên Đức hoàng đế cũng cho phép [[Trịnh Hòa]] thực hiện thêm một chuyến đi biển nữa; nhưng những chuyến viễn thám hàng hải đó đã kết thúc vào năm [[1434]].
 
Hội đồng cơ mật gồm các [[Thái giám]] đã tăng cường củng cố quyền lực tập trung hóa bằng cách kiểm soát chính sách bí mật, và ảnh hưởng của họ còn tiếp tục gia tăng.
 
Năm [[1428]], một viên ngự sử khét tiếng là [[Lưu Quan]] đã bị xử tội đày đi khổ sai và được thay thế bằng [[Cố Tá]], một người liêm khiết đã bãi nhiệm 43 thành viên của các đô sát viện Bắc Kinh và Nam Kinh vì bất tài. Một số quan lại làm trong các đô sát viện bị hạ cấp, bỏ tù hay đi đày, nhưng không có ai bị xử tử. Những người thay thế phải trải qua thời gian thử thách do các đô sát viện thực hiện việc kiểm tra toàn bộ thể chế hành chính của nhà Minh, bao gồm cả trong quân đội. Cùng năm, Tuyên Đức đã cải cách các quy tắc quản lý chế độ [[cưỡng bách]] [[quân dịch]], chế độ xử lý những kẻ đào tẩu. Quân đội mang tính cha truyền con nối vẫn tiếp tục tỏ ra là không hiệu quả với tinh thần bạc nhược. Các bất công lớn trong gánh nặng thuế má đã làm cho phần lớn nông dân phải bỏ trang trại ra đi trong vòng 40 năm trước đó.
 
Năm [[1430]], Tuyên Đức hoàng đế ra sắc lệnh giảm thuế trên tất cả các loại ruộng đất và gửi các quan lại đi kinh lý để sắp xếp lại công việc hành chính tại các tỉnh, thực hiện chính sách kiểm soát dân sự đối với quân sự. Họ đã cố gắng để loại bỏ những điều trái với quy tắc và sự tham nhũng của những người thu thuế. Tuyên Đức cũng thường ra lệnh xử lại các vụ án để cho phép hàng ngàn người dân vô tội có thể được giải phóng.
[[Thể loại:Sinh 1399]]
[[Thể loại:Họa sĩ Trung Hoa thời Minh]]
[[Thể loại:Hoàng đế từ Bắc Kinh]]