Khác biệt giữa các bản “Mông Cổ bí sử”

n
clean up, replaced: → (2) using AWB
n (clean up, replaced: → (2) using AWB)
Cũng giống như nhiều văn bản khác vào thời kỳ này, tác phẩm bao gồm các yếu tố văn hóa dân gian và thơ ca và không hẳn là sự thực như các sử gia mong muốn. Tác phẩm có những mốc thời gian mâu thuẫn. Mông Cổ bí sử ngoài việc là một tư liệu lịch sử quan trọng, còn là một trong các tư liệu thành văn đầu tiên của thơ ca Mông Cổ.
 
Tác phẩm bắt đầu với một bảng phả hệ về gia đình của [[Thành Cát Tư Hãn|Thiết Mộc Chân]]. Tác phẩm mô tả về cuộc sống của Thiết Mộc Chân bắt đầu từ khi phụ thân [[Dã Tốc Cai]] bắt cóc mẫu thân [[Ha Ngạch Lôn]], sau đó là cuộc sống những năm đầu đời của Thiết Mộc Chân; các khoảng thời gian khó khăn sau cái chết của phụ thân và nhiều cuộc xung đột chống lại ông, các cuộc chiến tranh, và âm mưu trước khi ông có tước hiệu [[Thành Cát Tư Hãn]] vào năm 1206. Các phần sau đó của tác phẩm nói về các cuộc chinh phục của Thành Cát Tư Hãn và [[Oa Khoát Đài]] trên khắp [[lục địa Á-Âu]], và phần kết là các nhận xét của Oa Khoát Đài về những gì ông ta đã làm.
 
Tác phẩm bao gồm 12 quyển:
Chỉ còn sót lại các bản sao của tác phẩm với hình thức phiên âm văn bản gốc tiếng Mông Cổ bằng Hán tự, kèm theo một bảng thuật ngữ trong dòng và một bản dịch mỗi phần bằng tiếng Hán. Tại Trung Quốc, tác phẩm được biết đến như là một văn bản dùng để dạy cho người Hán đọc và viết tiếng Mông Cổ vào thời [[nhà Minh]] và các bản dịch tiếng Hán đã được sử dụng trong một số sử tịch, song vào thập niên 1800, các bản sao đã trở nên rất hiếm.
 
[[Baavuday Tsend Gun]] (1875-1932) là học giả Mông Cổ dầu tiên đã chuyển tự ''Mông Cổ bí sử'' sang tiếng Mông Cổ hiện đại, vào năm 1915-17. Phát hiện đầu tiến về ''Bí sử'' ở phương Tây và cung cấp một bản dịch từ chú giải tiếng Hán là nhà Hán học người Nga [[Palladiy Kafarov]]. Bản dịch đầu tiên từ văn bản tiếng Mông Cổ được khôi phục lại là của nhà Hán học người Đức [[Erich Haenisch]] (phiên bản của văn bản khôi phục gốc: 1937; bản dịch: 1941, bản thứ hai 1948) và [[Paul Pelliot]] (1949). [[B. I. Pankratov]] đã xuất bản một bản dịch tiếng Nga vào năm 1962.<ref>[http://sinologica.orientalstudies.ru/eng/index.php?option=content&task=view&id=2183 Sinology at the St Petersburg Academy of Sciences, from the 18th century to 1968]</ref> Sau đó, [[Tsendiin Damdinsuren]] đã chuyển tự biên niên sử này sang [[tiếng Mông Cổ Khalkha]] vào năm 1970.
 
[[Arthur Waley]] đã cho xuất bản một bản dịch một phần của ''Bí sử'', song bản dịch đầy đủ đầu tiên sang tiếng Anh là của [[Francis Woodman Cleaves]], với tên gọi ''The Secret History of the Mongols: For the First Time Done into English out of the Original Tongue and Provided with an Exegetical Commentary''.<ref>Harvard-Yenching Institute, Cambridge: Harvard University Press, 1982.</ref> Ngôn ngữ cổ xưa mà Cleaves sử dụng không làm thỏa mãn tất cả mọi người, giữa năm 1971 và 1985, [[Igor de Rachewiltz]] đã xuất bản một bản dịch 11 quyển của loạt ''Papers on Far Eastern History'' với những lời chú thích mang tính rộng rãi ở cuối trang và không những vậy, nó còn bao gồm các khía cạnh của văn hóa Mông Cổ. ''Mông Cổ bí sử'' đã được các nhà nghiên cứu xuất bản bằng hơn 30 thứ tiếng.