Khác biệt giữa các bản “Nhà Minh”

n
clean up, replaced: → (2), → (9) using AWB
(khong phai 1415 ma la 1450)
n (clean up, replaced: → (2), → (9) using AWB)
== Lịch sử ==
=== Kiến quốc và thống nhất ===
Cuối thời Nguyên, quan viên tham ô, quý tộc hủ hóa, triều chính hủ bại. Nhằm loại trừ thâm hụt ngân sách, triều đình tăng nặng thu thuế, đồng thời in tùy tiện lượng lớn tiền mới "Chí chính bảo sao". Kết quả gây nên lạm phát, cộng thêm các loại thiên tai diễn ra thường xuyên khiến dân chúng khó mà sinh tồn. Năm 1351, [[Nguyên Thuận Đế]] phái Giả Lỗ trị lý [[Hoàng Hà]], trưng dụng 20 vạn người từ các địa phương. Tháng năm cùng năm, tín đồ [[Bạch Liên giáo]] là [[Hàn Sơn Đồng]] và [[Lưu Phúc Thông]] kích động dân chúng chịu nhiều tổn thất do thiên tai và bị đốc công ngược đãi tiến hành phản Nguyên khởi sự. Họ lập nên [[Quân Khăn Đỏ]], hay Hồng Cân quân, chiếm cứ các khu vực Hà Nam và An Huy<ref name="建國與統一"/>. Quân Khăn Đỏ cùng nghĩa quân các địa phương liên tiếp khởi sự, thế lực khuếch trương đến khu vực Hoa Trung, Hoa Nam. Sang năm 1352, [[Quách Tử Hưng]] thuộc Quân Khăn Đỏ tập hợp dân chúng khởi nghĩa, công chiếm Hào Châu (nay là [[Phượng Dương]], An Huy). Không lâu sau, một người Phượng Dương xuất thân nông dân là Chu Nguyên Chương đi theo Quách Tử Hưng, nhiều lần lập chiến công, được Quách Tử Hưng trọng thị và tín nhiệm. Sau đó, Chu Nguyên Chương rời Hào Châu, phát triển thế lực riêng<ref name="建國與統一">{{cite book|author=姜公韜|title=《中國通史 明清史》|chapter=第一章 元明之際|page=第9頁-第16頁|isbn=9787510800627|publisher=九州出版社|date=2010-1}}</ref><ref> 傅海波&崔瑞德《劍橋中國遼西夏金元史》, 中國社會科學出版社,2006年,第668-671頁</ref>.
 
Năm 1356, Chu Nguyên Chương suất binh chiếm lĩnh Tập Khánh (nay là [[Nam Kinh]], [[Giang Tô]]), đổi thành Ứng Thiên phủ, đồng thời chiếm cứ một số địa điểm quân sự trọng yếu nằm quanh đó. Chu Nguyên Chương chấp thuận kiến nghị "cao trúc tường, quảng tích lương, hoãn xưng vương" của mưu sĩ Chu Thăng, trải qua vài năm nỗ lực, thực lực quân sự và kinh tế nhanh chóng lớn mạnh. Năm 1360, Chu Nguyên Chương và một thủ lĩnh khởi nghĩa khác là [[Trần Hữu Lượng]] tiến hành giao chiến tại Long Loan thuộc tây bắc Tập Khánh, thế lực Trần Hữu Lượng đại bại và phải đào thoát đến Giang Châu (nay thuộc Cửu Giang, Giang Tây). Năm 1363, thông qua [[trận hồ Bà Dương|Thủy chiến tại hồ Bà Dương]], thế lực Trần Hữu Lượng về cơ bản bị tiêu diệt. Năm 1367, Chu Nguyên Chương tự xưng Ngô Vương, suất quân chiếm lĩnh Bình Giang (nay là [[Tô Châu]], Giang Tô), diệt một thủ lĩnh khởi nghĩa lớn mạnh khác là [[Trương Sĩ Thành]]. Cùng năm, Chu Nguyên Chương tiêu diệt [[Phương Quốc Trân]] cát cứ tại duyên hải [[Chiết Giang]]<ref name="建國與統一"/>.
Năm 1457, đám [[Thạch Hanh]], [[Từ Hữu Trinh]] liên minh nhằm phục vị cho Minh Anh Tông, họ thừa cơ Minh Đại Tông mắc trọng bệnh mà phát động binh biến. Từ Hữu Trinh suất quân công nhập Tử Cấm Thành, đám Thạch Hanh chiếm lĩnh Đông Hoa Môn, lập Minh Anh Tông tại Phụng Thiên điện, cải nguyên Thiên Thuận. Họ giam giữ Minh Đại Tông, bắt giết Vu Khiêm và Đại học sĩ [[Vương Văn]], sử xưng [[Đoạt Môn chi biến]]. Do hai lần tức vị, Minh Anh Tông trở thành hoàng đế duy nhất trong số các hoàng đế Minh-Thanh cai trị Trung Nguyên sử dụng hai niên hiệu. Sau khi phục vị, Minh Anh Tông thi hành tân chính, phế trừ chế độ tuẫn tàng từ thời Minh Thái Tổ. Sau đó, Minh Anh Tông cho lưu đày Từ Hữu Trinh do chính biến nội bộ, nhân [[biến Tào Thạch]] mà giết đám Thạch Hanh, [[Tào Cát Tường]]; đồng thời cho đám hiền thần Lý Hiền nắm quyền. Năm 1464, sau khi Minh Anh Tông từ trần, con ông là Chu Kiến Thâm tức vị, tức [[Minh Hiến Tông]], niên hiệu Thành Hóa<ref name="土木之變"/>.
 
Để rửa oan cho Vu Khiêm, Minh Hiến Tông khôi phục đế hiệu cho Minh Đại Tông, xét lại án oan Đoạt Môn, khiến nhiều người hài lòng. Tuy nhiên, Minh Hiến Tông nói lắp, do vậy rất ít khi tiếp đại thần, suốt ngày say đắm với [[Vạn hoàng quý phi|Vạn quý phi]]<ref>查繼佐.《罪惟錄·列傳卷2·皇后列傳》皇太后周氏曰:「彼有何美,而承恩多?”明憲宗曰:“彼抚摩吾安之,不在貌也。”</ref>, sủng tín đám hoạn quan [[Uông Trực (hoạn quan)|Uông Trực]], [[Lương Phương]], những năm cuối còn yêu thích thuật thần tiên. Đến đây đám gian nịnh nắm quyền, Tây xưởng hoành hành, triều cương hủ bại, dân chúng khổ sở. Hoạn quan Uông Trực nhận được sủng tín của Minh Hiến Tông, ngông cuồng hống hách, thông qua Tây xưởng giết oan bừa bãi phổ thông dân chúng và quan viên. Không lâu sau, do dân chúng phẫn uất khởi nghĩa khắp nơi, Tây xưởng bị bãi, song Uông Trực vẫn nắm giữ đại quyền, đến năm 1482 mới bị giáng chức<ref name="土木之變"/>. Thời Thành Hóa có nhiều nhóm quyền lực: nữ sủng, ngoại thích, nịnh hạnh, gian hoạn, tăng đạo, kết thành bè đảng làm loạn triều chính<ref name="明朝中後期的政局">{{cite book|author=姜公韜|title=《中國通史 明清史》|chapter=第四章 明朝中後期的政局|page=第51頁-第71頁|isbn=9787510800627|publisher=九州出版社|date=2010-1}}</ref>. Năm 1487, Minh Hiến Tông từ trần, con là Chu Hữu Đường kế vị, tức [[Minh Hiếu Tông]], niên hiệu Hoằng Trị.
 
Minh Hiếu Tông từ nhỏ xuất thân bần hàn, còn từng gặp nguy hiểm bị Vạn quý phi hại. Trong thời gian tại vị, ông tiến hành canh tân triều chính, khiến thói xấu từ thời Minh Anh Tông trở đi được loại trừ, được tán tụng là "Trung hưng chi lệnh chủ"<ref>夏燮.《明通鑑·卷40》。</ref>. Minh Hiếu Tông trước tiên đem toàn bộ đám quan lại gian nịnh và dư thừa từ thời Hiến Tông để lại loại bỏ hoặc bắt giữ trị tội. Đồng thời, Hiếu Tông tuyển chọn sử dụng người hiền tài, ủy nhiệm việc quan trọng cho người có tài<ref>《明史·卷304·懷恩傳》:「一时正人汇进,恩之力也。」</ref>. Minh Hiếu Tông chăm lo chính sự, mỗi ngày hai lần thị triều. Minh Hiếu Tông kiểm soát nghiêm ngặt hoạn quan, Cẩm y vệ và Đông xưởng cũng cẩn thận hành sự, dùng hình nhẹ bớt. Minh Hiếu Tông dốc sức thi hành tiết kiệm, không xây dựng công trình lớn, giảm miễn thuế phú. Bản thân Minh Hiếu Tông thi hành chế độ một vợ một chồng, ngoài [[Hiếu Thành Kính hoàng hậu|Trương hoàng hậu]] thì không có phi tần nào. Thời kỳ Hoằng Trị là thời kỳ tốt đẹp nhất từ trung kỳ triều Minh trở đi, Minh sử viết Minh Hiếu Tông "cung kiêm hữu chế, cần chính ái dân", được gọi là Hoằng Trị trung hưng<ref name="弘治正德">《明史:一個多重性格的時代》〈第二篇 第九章 從弘治中興到正德亂局 第三篇 第十二章 嘉靖初政與大禮紛爭〉. 第159頁-第171頁. 第211頁-第224頁</ref>. Tuy nhiên, vào trung hậu kỳ Minh Hiếu Tông không còn nghiêm túc lắng nghe can gián, đồng thời bắt đầu phung phí vô độ, khiến quốc gia bước vào tình cảnh khủng hoảng ngân khố, tệ chính vốn bị loại trừ vào sơ kỳ Hoằng Trị không những khôi phục toàn bộ mà còn trầm trọng hơn<ref>王其榘《明代內閣制度史》,中華書局,1989年</ref>. Năm 1505, Minh Hiếu Tông từ trần, con là Chu Hậu Chiếu tức vị, đó là [[Minh Vũ Tông]], niên hiệu Chính Đức.
 
[[File:Ming Chongzhen.jpg|thumb|160px|Minh Tư Tông Chu Do Kiểm là hoàng đế cuối cùng của triều Minh.]]
Sau khi tức vị, Minh Tư Tông kiên quyết loại trừ thế lực của Ngụy Trung Hiền để cải cách triều chính. Ông hạ lệnh đình chỉ xây dựng miếu thờ sống, bức Phụng Thánh phu nhân Khách thị ra ở ngoài cung, cuối cùng xử tử. Ông hạ lệnh Ngụy Trung Hiến đến Phụng Dương trông lăng mộ, Ngụy Trung Hiền trên đường đi cùng đồng đảng là Lý Triều Khâm tự tử, các phần tử khác trong Yêm đảng cũng bị biếm truất hoặc xử tử<ref>{{cite news|title=崇祯智除魏忠贤|url=http://ctdsb.cnhubei.com/html/ncxb/20090307/ncxb643717.html|accessdate=2014-01-17|newspaper=农村新报|date=2009-03-07|language=中文}}</ref> <ref>{{cite book|author=陈时龙|title=《正说明朝十六帝》|publisher=中华书局|location=北京|isbn=9787101045499|coauthors=许文继|language=中文|chapter=<思宗朱由检>|date=2005-01-01}}</ref>. Tuy nhiên, đảng tranh nội đấu kịch liệt, Minh Tư Tông không tín nhiệm bá quan, ông cố chấp, tăng cường tập quyền<ref name="天啟崇禎"/>. Đương thời, Hậu Kim tại phía đông bắc chiếm lĩnh khu vực Liêu Đông, đám [[Viên Sùng Hoán]] tại Liêu Tây kháng cự Khả hãn [[Hoàng Thái Cực]] xâm nhập. Năm 1629, Hoàng Thái Cực chuyển sang đi đường vòng Trường Thành để xâm nhập Bắc Kinh, Viên Sùng Hoán khẩn cấp hồi quân đối đầu với Hoàng Thái Cực tại Quảng Cừ môn Bắc Kinh. Trải qua Lục bộ cửu khanh hội thẩm, cuối cùng triều đình Minh xử tử Viên Sùng Hoán, sử xưng [[Kỉ Tị chi biến]]. Sau đó, Hoàng Thái Cực nhiều lần viễn chinh Mông Cổ, năm 1636 xưng đế tại Thịnh Kinh, cải quốc hiệu thành Đại Thanh. Hoàng Thái Cực liên tiếp phát động năm lần qua Trường Thành xâm nhập các khu vực Trực Lệ, Sơn Đông. Đương thời, Trực Lệ nhiều năm đói kém dịch bệnh, dân sinh gian khổ<ref>{{cite book|author=抱陽生|title=《甲申朝事小計》|chapter=卷六提到|quote=崇禎十六年二月北京,“大疫,人鬼錯雜。薄暮人屏不行。貿易者多得紙錢,置水投之,有聲則錢,無聲則紙。甚至白日成陣,牆上及屋脊行走,揶揄居人。每夜則痛哭咆哮,聞有聲而逐有影”。[[谷應泰]]《明史紀事本末》卷七十八中說「“京師內外城堞凡十五萬四千有奇,京營兵疫,其精銳又太監選去,登陴訣羸弱五六萬人,內閹數千人,守陴不充”。}}</ref>. Cục thế Liêu Tây cũng ngày càng xấu đi, cuối cùng quân Thanh vào năm 1640 chiếm lĩnh Cẩm Châu và các nơi khác, tướng [[Hồng Thừa Trù]] đầu hàng, thế lực triều Minh thu nhỏ đến Sơn Hải quan<ref name="天啟崇禎"/>.
 
Từ trung kỳ về sau, Đại Minh thường phát sinh nông dân khởi nghĩa, đến thời kỳ Minh Tư Tông do triều chính hỗn loạn và quan viên tham ô bất tài, nhu cầu phục vụ chiến tranh với Hậu Kim và quân Hậu Kim cướp đoạt, cùng với việc khí hậu trở nên lạnh hơn do [[Thời kỳ băng hà nhỏ|tiểu băng kỳ]], sản lượng nông nghiệp giảm gây nên đói kém trên quy mô toàn quốc, những điều này đều làm tăng gánh nặng cho nhân dân. Năm 1627, dân đói tại [[Trừng Thành]] thuộc Thiểm Tây tiến hành bạo động, khởi đầu cho giai đoạn Minh mạt dân biến, sau đó [[Vương Tự Dụng]], [[Cao Nghênh Tường]], [[Lý Tự Thành]], [[Trương Hiến Trung]] cùng những nông dân khác khởi nghĩa, cuối cùng phát triển thành Lý Tự Thành hùng cứ Thiểm Tây, Hà Nam, còn Trương Hiến Trung chiếm cứ Tứ Xuyên. Năm 1644, Lý Tự Thành kiến quốc [[Đại Thuận]], sau đó đánh hạ Bắc Kinh, Minh Tư Tông tự vẫn, triều Minh mất<ref name="天啟崇禎"/>. Ngô Tam Quế là tướng Minh trấn thủ Sơn Hải Quan, sau khi triều Minh mất ông ta quyết định dẫn quân Thanh nhập quan, đánh bại quân Đại Thuận. Nhiếp chính vương [[Đa Nhĩ Cổn]] và [[Thuận Trị|Thuận Trị Đế]] của triều Thanh nhập quan, Bắc Kinh trở thành thủ đô của triều Thanh. Lý Tự Thành triệt thoái về Thiểm Tây, cuối cùng bị quân Thanh tiêu diệt<ref name="天啟崇禎"/>
 
===Thừa tuyên bố chính sứ ty===
Thừa tuyên bố chính sứ ty (bố chính ty) quản lý hành chính địa phương, địa vị tương đương với "hành trung thư tỉnh" vào thời Nguyên. Minh Thái Tổ vốn duy trì tên gọi "hành trung thư tỉnh", đến năm 1376 thì đổi thành "bố chính sứ ty", thường gọi là hành tỉnh<ref name="明太祖的開國規模"/>. Đầu thời Minh đặt 13 bố chính ty cùng kinh sư (địa vị tương đương bố chính ty, quản lý Giang Tô và An Huy hiện nay). Năm 1380, sau án Hồ Duy Dung triều Minh phế bỏ "trung thư tỉnh", kinh sư và bố chính ty trực thuộc Lục bộ. Thời kỳ Minh Thành Tổ, từ năm 1407 đến năm 1428 đặt Giao Chỉ bố chính ty. Năm 1413, đặt Quý Châu bố chính ty. Do thiên đô Bắc Kinh, vào năm 1403 đưa Bắc Bình bố chính ty thăng làm "hành tại", năm 1421 sau khi thiên đô Bắc Kinh gọi là kinh sư (Bắc Trực Lệ), kinh sư cũ đổi thành Nam Kinh (Nam Trực Lệ), hình thành phân chia hành chính "lưỡng kinh thập tam tỉnh". Lưỡng kinh là Bắc Kinh và Nam Kinh, gọi chính thức là Thuận Thiên phủ và Ứng Thiên phủ<ref name="明太祖的開國規模"/>, chúng cùng với các châu phủ lân cận lần lượt gọi chung là Bắc Trực Lệ và Nam Trực Lệ, không đặt bố chính ty, 13 bố chính ty gồm: Thiểm Tây, Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Chiết Giang, Giang Tây, Hồ Quảng, Tứ Xuyên, Quảng Đông, Phúc Kiến, Quảng Tây, Quý Châu, Vân Nam. Phân chia hành chính của triều Minh về đại thể phù hợp với địa thế núi sông, song có một số điểm bất hợp lý, như Nam Trực Lệ nằm vắt qua cả ba khu vực Hoài Bắc, Hoài Nam, Giang Nam, khu vực Tô-Tùng về ngôn ngữ-văn hóa thuộc khu Thái Hồ Ngô-Việt song được quy nhập Nam Trực Lệ thay vì Chiết Giang; bồn địa Hán Trung nằm tại phía nam [[Tần Lĩnh]] được quy nhập Thiểm Tây thay vì Tứ Xuyên, Hà Nam bao gồm một phần phía bắc Hoàng Hà. Quý Châu có hình giống loài bướm khi khoảng giữa hẹp song hai bên thì rộng<ref name="明朝州省"/>.
 
===Đô chỉ huy sứ ty===
== Chế độ chính trị==
[[File:Forbidden City Beijing Shenwumen Gate.JPG|260px|thumb|Thần Vũ môn là cửa bắc của Tử Cấm Thành Bắc Kinh, xây xong vào năm Vĩnh Lạc thứ 18 (1420)]]
Năm Hồng Vũ thứ 13 (1380), Minh Thái Tổ lấy việc Thừa tướng Hồ Duy Dung mưu phản nên phế bỏ chức vụ thừa tướng, các hoàng đế sau này cũng không đặt lại chức vụ này. Từ thời [[nhà Tần|Tần]], [[nhà Hán|Hán]] trở đi Trung Quốc đã hơn 1600 năm thực hành chế độ tể tướng, đến đây bị phế bỏ, lục bộ trực tiếp do hoàng đế phụ trách, quyền của thừa tướng và quyền về quân sự hợp làm một, hoàng đế triều Minh một mình nắm đại quyền, thể chế chính trị của triều Minh cũng là chính thể chuyên chế hiếm thấy trong lịch sử thế giới, thi hành thể chế quốc gia tam quyền phân lập: quân quyền, quyền hành chính, quyền giám sát, về sau do quyền giám sát bị phế bỏ, quốc thể mất cân bằng mà nhanh chóng suy bại. Do có nhiều quốc sự, hoàng đế không thể xử lý hết, đến năm Kiến Văn thứ 4 (4) Minh Thành Tổ mới bắt đầu đặt [[nội các]]. Nội các chỉ là cố vấn cho hoàng đế, phê đáp tấu chương do hoàng đế chuyên trách. Nội các triều Minh từ khi khởi đầu đến khi kết thúc đều không phải là cơ cấu hành chính cấp một trung tâm trong triều, được cho rằng chỉ là biệt xưng của Văn Uyên các. Chức vụ Nội các đại học sĩ phần nhiều là người có tài đức hoặc đại thần trong triều đảm nhiệm, chỉ theo ý chỉ của hoàng đế mà viết ra, gọi là "truyền chỉ đương bút", quyền lực và địa vị còn xa mới bằng tể tướng khi xưa, chỉ có địa vị ngầm, song không có địa vị pháp định. Thời kỳ Tuyên Tông, do có ba người họ Dương là Dương Phổ, Dương Sĩ Kỳ và Dương Vinh tham gia nội các, Tuyên Tông phê chuẩn nội các khởi thảo thánh chỉ trần thuật ý kiến của họ, gọi là chế độ "phiếu nghĩ" 票擬, lại trao cho cơ cấu hoạn quan là Ty lễ giám phê thay tức "phê chu" 批朱. Phép "phiếu nghĩ" khắc phục tệ quân chủ không muốn diện kiến các triều thần, song đại thần nội các và hoàng đế ngăn cách, đều dựa vào Ty lễ giám, do đó khởi đầu chế độ hoạn quan chuyên chính trong triều Minh. Nhằm tăng cường giám thị với thần dân toàn quốc, Minh Thái Tổ còn thiết lập cơ cấu đặc vụ mang tên "cẩm y vệ", Minh Thành Tổ lập thêm "đông xưởng", Minh Hiến Tông lập "tây xưởng" (về sau phế bỏ), gọi chung là "xưởng vệ", do hoạn quan thống lĩnh, từ đó quyền thế của hoạn quan triều Minh đạt đến cực độ<ref name="洪武專政"/><ref>王其榘《明代內閣制度史》,中華書局,1989年,第339頁</ref><ref name="洪武專政"/>.
 
===Cơ cấu chủ yếu===
Nguồn gốc ban đầu của quân đội triều Minh, gồm có các binh sĩ vốn có, gọi là tòng chinh, có binh sĩ triều Nguyên và binh sĩ quần hùng quy phụ, có người hoạch tội đày ải, song nguồn chủ yếu nhất là tuyển theo hộ tịch, cũng tức là 'đóa tập quân'. Ngoài ra, còn có các phương thức giản bạt, đầu sung và thu tập. Ngoài ra, từ trung kỳ triều Minh trở về sau còn có chuyện cưỡng bách dân làm binh, tuy nhiên đều là thiểu số, về mặt chính thức, "vệ sở chế" vẫn là quân chế chủ yếu. Vệ sở chế là tại yếu địa quân sự các địa phương toàn quốc thiết lập vệ sở trú quân, "vệ" có quân đội quy mô 5600 người, bên dưới có các đơn vị như thiên hộ sở, bách hộ sở, tổng kỳ và tiểu kỳ, các vệ sở đều lệ thuộc ngũ quân đô đốc phủ, cũng là lệ thuộc Binh bộ, khi hữu sự được điều động, khi vô sự lại trở về vệ sở. Nguồn gốc của quân đội là quân hộ thế tập, do mỗi hộ phái một người làm "chính đinh" đến vệ sở làm binh, quân nhân trong vệ sở luân phiên phòng thủ và đồn điền, đồn điền đáp ứng nhu cầu của quân đội và tướng quan. Mục tiêu của nó là nuôi binh song không tiêu hao tài lực quốc gia, song từ thời Minh Tuyên Tông về sau thì không thể duy trì, mức sinh hoạt và địa vị của quân nhân ngày càng hạ thấp, binh sĩ đào ngũ dần gia tăng, quân bị do đó dần dần hư hỏng<ref>《細說明朝》〈二五、军民分籍、卫所〉. 黎東方. 第59頁-第60頁</ref>.
 
Trong thời kỳ kháng Nhật viện Triều những năm Vạn Lịch, người Minh sáng tạo "thủy lôi chiến" đánh đắm chiến hạm Nhật Bản; "hỏa long xuất thủy" phát minh trong thế kỷ 16 là một loại tên lửa hai bậc dùng trong thủy chiến; thợ thủ công triều Minh thiết kế chế tạo mìn vỏ sắt sớm nhất trong lịch sử nhân loại; lục quân triều Minh từng được trang bị một loại "hổ tồn pháo", cũng là loại kỵ pháo binh đầu tiên trong lịch sử nhân loại, có học giả cho rằng loại kỹ thuật này đi trước phương Tây khoảng 200 năm<ref>《军事文摘》2009年第7期,作者:张昊天,原题:《明朝军事四个第一》。</ref><ref>[http://cul.qq.com/a/20150201/012239.htm 揭秘:明朝在军事上创造四项世界第一] 腾讯网</ref>.
 
Trong những năm Gia Tĩnh, khi ứng phó loạn Uy khấu, tướng lĩnh Thích Kế Quang tại khu vực Chiết Giang sử dụng phương thức chiêu mộ dân binh huấn luyện thêm, thay thế vệ sở binh không đảm đương nổi. Chính vì nguyên nhân quân chính quy là vệ sở quân không đảm đương nổi, cho nên lực lượng dân binh đến hậu kỳ triều Minh dần dần đảm nhiệm vai trò bộ đội tác chiến duy trì sự thống trị hữu hiệu của triều đình, trong đó nổi tiếng nhất là Thích gia quân do Thích Kế Quang chiêu mộ chủ yếu từ người Chiết Giang, bộ đội tư nhân Liêu Đông thiết kỵ của Lý Như Tùng, và Quan Ninh thiết kỵ do Viên Sùng Hoán chiêu mộ chủ yếu từ người Liêu Đông<ref>《細說明朝》〈二六、五军都督府、兵部〉. 黎東方. 第61頁-第62頁</ref>。
! width="15%" | Ghi chú
|-style="height:50px;"
| '''[[Tập tin:Zhu Yuanzhang.gif|40px|border]]''' || '''[[Minh Thái Tổ|Hồng Vũ]]''' || Thái Tổ <small>(太祖)</small> || Cao đế <small>(高帝)</small>||style="text-align: right"| 1368 ||style="text-align: center"| — ||style="text-align: left"| 1398 || <small>Sáng lập triều đại</small>
|-style="height:50px;" bgcolor="#EFEFEF"
| style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | [[Tập tin:Jianwen Emperor.jpg|40px|border]] || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | '''[[Minh Huệ Đế|Kiến Văn]]''' || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | <small>''không có''</small> || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | Huệ Đế <small>(惠帝)</small>||style="text-align: right"| 1398 ||style="text-align: center"| — ||style="text-align: left; border-right: 1px solid #FFFFFF;" | 1402 ||
|-style="height:50px;"
| [[Tập tin:Yongle-Emperor1.jpg|40px|border]] || '''[[Minh Thành Tổ|Vĩnh Lạc]]''' || Thành Tổ <small>(成祖)</small> || Văn Đế <small>(文帝</small>) ||style="text-align: right"| 1402 ||style="text-align: center"| — ||style="text-align: left"| 1424 || <small>soán ngôi [[Minh Huệ Đế|Chu Doãn Văn]]</small>
|-style="height:50px;" bgcolor="#EFEFEF"
| style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | [[Tập tin:Hongxi Emperor.jpg|40px|border]] || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | '''[[Minh Nhân Tông|Hồng Hi]]''' || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | Nhân Tông <small>(仁宗)</small> || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | Chiêu Đế <small>(昭帝)</small> ||style="text-align: right"| 1424||style="text-align: center"| — ||style="text-align: left; border-right: 1px solid #FFFFFF;" | 1425 ||
|-style="height:50px;"
| '''[[Tập tin:Xuande Emperor.jpg|40px|border]]''' || '''[[Minh Tuyên Tông|Tuyên Đức]]''' || Tuyện Tông <small>(宣宗)</small> || Chương đế <small>(章帝)</small>||style="text-align: right"| 1425 ||style="text-align: center"| — ||style="text-align: left"| 1435 ||
|-style="height:50px;" bgcolor="#EFEFEF"
| style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | [[Tập tin:Zhengtong Emperor.jpg|40px|border]] || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | '''[[Minh Anh Tông|Chính Thống]]''' || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | Anh Tông <small>(英宗)</small> || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | Duệ Đế <small>(睿帝)</small>||style="text-align: right"| 1435 ||style="text-align: center"| — ||style="text-align: left; border-right: 1px solid #FFFFFF;" | 1449 ||
|-style="height:50px;"
| || '''[[Minh Đại Tông|Cảnh Thái]]''' || Đại Tông <small>(代宗)</small> || Cảnh Đế <small>(景帝)</small> ||style="text-align: right"| 1449 ||style="text-align: center"| — ||style="text-align: left"| 1457 ||
|-style="height:50px;" bgcolor="#EFEFEF"
| style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | [[Tập tin:Zhengtong Emperor.jpg|40px|border]] || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | '''[[Minh Anh Tông|Thuận Thiên]]''' || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | Anh Tông <small>(英宗)</small> || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | Duệ Đế <small>(睿帝)</small>||style="text-align: right"| 1457 ||style="text-align: center"| — ||style="text-align: left; border-right: 1px solid #FFFFFF;" | 1464 || <small>cướp ngôi Cảnh Thái trong khi Cảnh Thái ốm nặng</small>
|-style="height:50px;"
| [[Tập tin:Chenghua Emperor1.jpg|40px|border]] || '''[[Minh Hiến Tông|Thành Hóa]]''' || Hiến Tông <small>(憲宗)</small> || Thuần Đế <small>(純帝)</small> ||style="text-align: right"| 1464 ||style="text-align: center"| — ||style="text-align: left"| 1487 ||
|-style="height:50px;" bgcolor="#EFEFEF"
| style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | [[Tập tin:Hongzhi.jpg|40px|border]] || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | '''[[Minh Hiếu Tông|Hoằng Trị]]''' || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | Hiếu Tông <small>(孝宗)</small> || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | Kính Đế <small>(敬帝)</small>||style="text-align: right"| 1487 ||style="text-align: center"| — ||style="text-align: left; border-right: 1px solid #FFFFFF;" | 1505 ||
|-style="height:50px;"
| [[Tập tin:Zhengde.jpg|40px|border]] || '''[[Minh Vũ Tông|Chính Đức]]''' || Vũ Tông <small>(武宗)</small> || Nghị Đế <small>(毅帝)</small> ||style="text-align: right"| 1505 ||style="text-align: center"| — ||style="text-align: left"| 1521 ||
|-style="height:50px;" bgcolor="#EFEFEF"
| style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | [[Tập tin:Jiajing.jpg|40px|border]] || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | '''[[Minh Thế Tông|Gia Tĩnh]]''' || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | Thế Tông <small>(世宗)</small> || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | Túc Đế <small>(肅帝)</small>||style="text-align: right"| 1521 ||style="text-align: center"| — ||style="text-align: left; border-right: 1px solid #FFFFFF;" | 1566 ||
|-style="height:50px;"
| [[Tập tin:Longqing.jpg|40px|border]] || '''[[Minh Mục Tông|Long Khánh]]''' || Mục Tông <small>(穆宗)</small> || Trang Đế <small>(莊帝)</small> ||style="text-align: right"| 1566 ||style="text-align: center"| — ||style="text-align: left"| 1572 ||
|-style="height:50px;" bgcolor="#EFEFEF"
| style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | [[Tập tin:Wanli.jpg|40px|border]] || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | '''[[Minh Thần Tông|Vạn Lịch]]''' || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | Thần Tông <small>(神宗)</small> || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | Hiển Đế <small>(萬曆)</small>||style="text-align: right"| 1572 ||style="text-align: center"| — ||style="text-align: left; border-right: 1px solid #FFFFFF;" | 1620 ||
|-style="height:50px;"
| [[Tập tin:Taichang.jpg|40px|border]] || '''[[Minh Quang Tông|Thái Xương]]''' || Quang Tông <small>(光宗)</small> || Trinh Đế <small>(貞帝)</small> ||style="text-align: right"| <!--0--> ||style="text-align: center"| 1620 ||style="text-align: left"| <!--o--> ||
|-style="height:50px;" bgcolor="#EFEFEF"
| style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | [[Tập tin:Jianqi Emperor.jpeg|40px|border]] || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | '''[[Minh Hy Tông|Thiên Khải]]''' || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | Hy Tông <small>(熹宗)</small> || style="border-right: 1px solid #FFFFFF;" | Triết Đế <small>(悊帝)</small>||style="text-align: right"| 1620 ||style="text-align: center"| — ||style="text-align: left; border-right: 1px solid #FFFFFF;" | 1627 ||
|-style="height:50px;"
| [[Tập tin:Ming Chongzhen.jpg|40px|border]] || '''[[Minh Tư Tông|Sùng Trinh]]''' || Tư Tông <small>(思宗)</small> || Trang Liệt Mẫn <small>(莊烈愍)</small> ||style="text-align: right"| 1627||style="text-align: center"| — ||style="text-align: left"| 1644 ||
|}