Khác biệt giữa các bản “Leopard 1”

n
clean up, replaced: → (74), → (41) using AWB
n (→‎Australia: sửa chính tả 3, replaced: 1 trong → một trong using AWB)
n (clean up, replaced: → (74), → (41) using AWB)
{{Infobox Weapon
| name = Leopard 1
| image = [[Tập tin:Leopard1 cfb borden 2.JPG|300px]]
| caption = Leopard 1A3 (Canadian Leopard C1) at the [[Base Borden Military Museum]]
| origin = {{flagcountry|West Germany}}
| type = [[Main battle tank]]
| is_vehicle = yes
<!-- Service history -->
| wars = [[War in Afghanistan]]
<!-- General specifications -->
| length = 9.54/8.29 m (gun forward/rearward)
| width = 3.37 m
| height = 2.39/2.70 m (turret roof/absolute)
| weight = 42.2 tonnes (increased on later models from original 40.0 tonnes)<ref name=TGelbart109 />
| suspension = Torsion-bar
| speed = 65 km/h
| vehicle_range = 600 km (on road), 450 km (cross-country)
| primary_armament = 1 x 105mm [[Royal Ordnance L7|Royal Ordnance L7A3]] L/52 [[rifled]] gun
(13 rounds in turret 42 rounds in hull)
| secondary_armament = 2 x 7.62 mm [[MG3|MG 3]] or [[FN MAG]] ([[coaxial weapon|co-axial]] and commander's hatch)
(5500 rounds)
| armour = [[Rolled homogeneous armour|RHA]], 70 mm (maximum), 10mm (minimum)
| engine = [[MTU Friedrichshafen|MTU]] MB 838 CaM 500, 10-cylinder, 37.4 litres, multi-fuel engine
| crew = 4 (chỉ huy, lái xe, gunner, radio operator/tiếp đạn)
| engine_power = 830 PS (819 hp, 610 kW) at 2200 RPM
| pw_ratio = 19.6 PS/tonne
}}
'''Leopard 1''' là một loại [[xe tăng chiến đấu chủ lực]] được [[thiết kế]] và [[sản xuất]] tại [[Đức]] và lần đầu tiên đi vào phục vụ vào năm [[1965]]. Việc thiết kế bắt đầu bằng một dự án hợp tác giữa Đức và [[Pháp]] vào những năm 1950<ref name=TGelbart109>{{chú thích sách |last=Gelbart |first=Marsh |title=Tanks main battle and light tanks |year=1996 |publisher=Brassey’s UK Ltd |pages=109–110 |isbn=185753168X}}</ref>, nhưng các quan hệ đối tác đã kết thúc và thiết kế cuối cùng được đặt hàng bởi Bundeswehr, sản xuất bắt đầu vào năm 1965. Trong tổng số 6.485 xe tăng Leopard đã được xuất xưởng, có 4.744 xe tăng chiến đấu và 1.741 phiên bản [[xe cứu thương bọc thép]], [[pháo phòng không]], [[xe chiến đấu bộ binh]],... sử dụng khung gầm của Leopard 1.
 
== Lịch sử phát triển ==
Leopard 1 là dòng tăng chiến đấu chính của Đức sau thế chiến được sản xuất và thiết kế tại Tây Đức. Năm 1955, mười năm sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ II, Cộng hoà Liên bang Đức đã được cho phép để tái vũ trang và đã được mời tham gia vào Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (Nato). Trong thành phần Lực lượng vũ trang các nước thuộc khối quân sự Bắc Đại Tây dương bao gồm chủ yếu các xe tăng do Mỹ sản xuất, trong số đó, nổi bật nhất là M48 "Patton". Tuy nhiên, ngay sau khi gia nhập NATO, Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức đã quyết định bắt tay thiết kế loại xe tăng cho riêng mình vì theo đánh giá các xe tăng Mỹ đã thể hiện sự ít hiệu quả trên các địa bàn hoạt động quân sự tại châu Âu. "Leopard" được thiết kế dựa trên các kinh nghiệm cơ bản, được đúc kết, tích lũy trong quá trình khai thác vận hành và sửa chữa M48 "Patton" và "Centurion", những xe tăng được bố trí tại các cơ sở quân sự tại Tây Đức. Năm 1957 tại Đức và Pháp, và sau đó Ý, thoả thuận hợp tác trong việc thiết kế và xây dựng mới Main Battle Tank (MBT). Hai đội thiết kế đã được hình thành tại Đức và một ở Pháp. Mẫu đầu tiên, do hai đội thiết kế từ Đức, đã sẵn sàng cho thử nghiệm năm 1960. Từ sự học tập các kinh nghiệm chiến tranh đã qua, của nước Đức và của nước ngoài, Đức đã thiết kế và sản xuất được mẫu xe tăng thử nghiệm đầu tiên vào năm 1961. Trong năm 1962, mẫu của Pháp AMX-30 và của Đức được phát triển song song. Trong những năm tiếp theo, chính phủ Đức nhận thấy mẫu Standardpanzer -mà sau này là Leopoard 1 phù hợp với các yêu cầu của mình. Vì vậy, việc thiết kế hệ đối tác kết thúc. Pháp đưa mẫu AXM-30 vào sản xuất. Còn Ý lúc đầu cũng dự định sản xuất MBT cho riêng mình nhưng sau đó đã quyết định mua M60 MBT để thay thế cho kiểu tank hạng trung M-47.<ref name="Xe tank các quốc gia trên thế giới">[http://ttvnol.com/forum/quansu/1138405/trang-16.ttvn?v=vgd2qnjnaprkovtvcfhv/ Xe tank các quốc gia trên thế giới]</ref>
 
== Mô tả ==
 
=== Leopard 1A5 ===
Năm 1980, một chương trình nghiên cứu, cải tiến Leopard 1 đã được tiến hành, các phiên bản Leopard 1A1 và A2 được cung cấp một hệ thống điều khiển hỏa lực hiện đại rất hiệu quả trong việc tác chiến ban đêm và trong điều kiện thời tiết xấu. Tháp pháo của xe được thiết kế lại. Xe sử dụng pháo nòng trơn 120mm Rheinmetall L55 của Leopard 2. Xe còn được trang bị hệ thống kiểm soát hỏa hoạn EMES 18 và hệ thống các thiết bị quang học mới. Đạn APFSDS là loại đạn được sử dụng chủ yếu trong Leopard 1A5. Giáp xe cũng được tăng cường. 1300 xe tăng A1 và A2 đã được cải tiến theo gói nâng cấp này và nhận tên gọi "Leopard" 1A5. Những xe tăng Leopard 1A5 được chuyển giao cho Quân đội Đức lần đầu tiên vào đầu năm 1987. Kể từ Leopard 1A5 được coi là "chiếc tăng tiêu chuẩn" của dòng Leopard 1 ngày nay.<ref name="Leopard 1">[http://en.wikipedia.org/wiki/Leopard_1/ Leopard 1]</ref>
=== Leopard 1A6 ===
Phiên bản Leopard 1A1 được nâng cấp giáp bảo vệ và được bị trọng pháo nòng trơn 120mm Rheinmetall L55 của Leopard 2.<ref name="Leopard 1"/>
* {{flag|Brazil}}— Có khoảng 128 xe tăng Leopard 1A1 đang phục vụ trong biên chế của Lục quân Brazil. Ngày 04 tháng 08 năm 2009, Báo điện tử Mercopress cho biết, Lục quân Brasil đã đặt mua 250 xe tăng Leopard 1A5 của Đức thuộc một phần trong Chiến lược Quốc phòng của nước này đã được Tổng thống Lula da Silva phê duyệt tháng 12/2008. Chúng được bàn giao cho Brazil trong 3 tháng nữa và lô xe tăng đầu tiên được biên chế cho Santa Maria thuộc bang cực nam Rio Grande do Sul.
* {{flag|Canada}}—114 Leopard C2. Vào đầu năm 2000, chính phủ Canada đã cắt giảm số tăng Leopar C2 xuống còn 66 chiếc và dần thay thế chúng xe tăng Leoaprd 2 mua từ Hà Lan và Đức.
* {{flag|Chile}}—202 Leopard 1, hiện đã giảm xuống chỉ còn 150 chiếc. Quân đội Chile đã bán 30 chiếc tăng Leopard 1 cho [[Ecuador]] vào năm 2009. Hiện nay, Chile đang dần thay thế Leopard 1bằng phiên bản Leopard 2 mạnh hơn. Các phương tiện thông tin đại chúng Chile cho biết: Lô hàng đầu tiên bao gồm 132 chiếc xe tăng Leopard 2 A4 mới nhất mà Chile mua của Đức để hiện đại hóa Lực lượng Vũ trang đã được chuyển đến nước này. Lễ chuyển giao chính thức xe tăng bọc thép diễn ra tại doanh nghiệp Krauss-Magei Wegmann thuộc thành phố Munich với sự có mặt của Bộ trưởng Quốc phòng của hai nước. Theo các nguồn tin của Chile cho biết, hợp đồng đã được kí vào tháng 7 năm nay sau hai năm hội đàm tích cực và căng thẳng. Theo hợp đồng, sau mỗi quý sẽ có 10-12 xe tăng được chuyển đến Chile. Tổng giá trị hợp đồng vẫn chưa được công bố. Leopard 2 A4, có trọng lượng 60 tấn, là một trong những loại xe tăng tốt nhất trên thế giới. Lần đầu tiên xuất khẩu ra nước ngoài, loại xe tăng này được lắp đặt pháo nòng trơn cỡ 120mm. Ngoài ra, xe tăng cung cấp cho Chile lần này được lắp đặt máy tính mới nhất tạo điều kiện nâng cao đáng kể tính hiệu quả và tầm xa của pháo khi bắn ra.
* {{flag|Denmark}}— Chỉ sử dụng các phiên bản xe bắc cầu và xe thiết giáp phục hồi
* {{flag|Ecuador}}—30 Leopard 1 mua lại từ Chile.<ref>[http://www.strategypage.com/htmw/htarm/articles/20090116.aspx Aging Leopards Prowl The Andes]</ref>
Xe tăng Leopard 1 phục vụ lần đầu tiên trong biên chế của Quân đội Úc vào năm 1976, quân đội nước này cần một loại tăng mới để thay thế cho các chiếc tăng Centurion đã cũ của Anh (xe tăng Centurion phục vụ trong biên chế Lục quân Úc từ năm 1952).
 
Vào tháng 3 năm 2004, Chính phủ Úc quyết định thay thế cho Leopard 1 bằng M1A1 Abrams AIM ]]<ref>[http://www.defence.gov.au/dmo/lsd/land907/land907.cfm Australian Defence Force maintains a supportable, survivable and interoperable tank capability until at least 2020]</ref>.
 
59 xe tăng M1A1 Abrams đã được chuyển giao vào tháng 9 năm 2006. Đồng thời, Hercules M88A2 cũng được trang bị để thay thế cho các loại xe kỹ thuật được thiết kế dựa trên khung gầm của Leopard 1 vốn đã cũ kỹ, lạc hậu.