Khác biệt giữa các bản “Casablanca (phim)”

n
sửa chính tả 3, replaced: Thế chiến thứ hai → Chiến tranh thế giới thứ hai (4), Thế chiến thứ nhất → Chiến tranh thế giới thứ nhất using AWB
(→‎Liên kết ngoài: AlphamaEditor, thêm thể loại, Executed time: 00:00:32.5378610 using AWB)
n (sửa chính tả 3, replaced: Thế chiến thứ hai → Chiến tranh thế giới thứ hai (4), Thế chiến thứ nhất → Chiến tranh thế giới thứ nhất using AWB)
}}
[[Tập tin:Casablanca trailer (1942).webm|thumb|thumbtime=9|upright=1.5|Trailer]]
'''''Casablanca''''' là một bộ phim tình cảm [[Điện ảnh Hoa Kỳ|Mỹ]] của đạo diễn [[Michael Curtiz]] được công chiếu năm [[1942]]. Dàn diễn viên của phim gồm hai ngôi sao hàng đầu của [[Hollywood]] là [[Humphrey Bogart]] và [[Ingrid Bergman]] cùng các diễn viên [[Paul Henreid]], [[Claude Rains]], [[Conrad Veidt]], [[Sydney Greenstreet]] và [[Peter Lorre]]. Lấy bối cảnh giai đoạn đầu [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Thế chiến thứ hai]], ''Casablanca'' đề cập tới số phận của những người do cuộc chiến mà phải mắc kẹt lại tại thành phố biển [[Casablanca]], [[Maroc]] lúc này thuộc quyền quản lý của [[chính phủ Vichy|chính quyền Vichy]] Pháp thân [[Đức Quốc xã]]. Trung tâm của bộ phim là Rick Blaine (do Bogart thủ vai), một chủ quán bar bị giằng xé bởi lựa chọn khó khăn giữa tình yêu của anh dành cho Ilsa Lund (do Bergman thủ vai) và trách nhiệm giúp cô cùng chồng là Victor Laszlo (do Henreid thủ vai), một lãnh tụ kháng chiến người [[Tiệp Khắc]] thoát khỏi [[Maroc]] để tới [[Hoa Kỳ]].
 
Mặc dù là một bộ phim có đầu tư lớn với dàn diễn viên nhiều ngôi sao cùng đội ngũ sản xuất tên tuổi, không ai trong đoàn làm phim tin rằng nó sẽ trở thành một sản phẩm vượt trội so với hàng chục bộ phim Hollywood khác được sản xuất cùng năm.<ref>{{chú thích web | url = http://rogerebert.suntimes.com/apps/pbcs.dll/article?AID=/19960915/REVIEWS08/401010308/1023 | last = Ebert | first = Roger | title = Casablanca (1942) | date =ngày 15 tháng 9 năm 1996 | publisher = ''[[Chicago Sun-Times]]'' | accessdate = ngày 29 tháng 7 năm 2007}}</ref> Được đưa ra rạp công chiếu sớm nhằm tận dụng sự kiện [[Chiến dịch Torch|quân Đồng minh tấn công Bắc Phi]],<ref name="Stein interview">{{chú thích web |url=http://www.vincasa.com/indexkoch.html |title="Howard Koch, Julius Epstein, Frank Miller Interview"|author=Eliot Stein |publisher=vincasa.com |month=5 | year=1995 |accessdate=ngày 11 tháng 6 năm 2008}} Frank Miller: "There was a scene planned, after the ending, that would have shown Rick and Renault on an Allied ship just prior to the landing at CASABLANCA but plans to shoot it were scrapped when the marketing department realized they had to get the film out fast to capitalize on the liberation of North Africa."</ref> bộ phim được coi là một thành công về doanh thu cũng như về mặt nghệ thuật khi giành được ba [[giải Oscar]] trong đó có giải quan trọng [[Giải Oscar cho phim xuất sắc nhất|Phim hay nhất]]. Trải qua thời gian, bộ phim tiếp tục được đánh giá cao và nó được coi là một trong những tác phẩm kinh điển của điện ảnh Hollywood với nhiều câu thoại, hình tượng nhân vật và phần nhạc phim đã trở thành mẫu mực trong [[lịch sử điện ảnh]]. Hơn 60 năm sau ngày công chiếu đầu tiên, ''Casablanca'' vẫn thường xuyên đứng ở nhóm đầu trong các bảng xếp hạng những bộ phim hay nhất trong lịch sử.
Trải qua thời gian, bộ phim tiếp tục nhận được đánh giá cao từ giới phê bình phim. Nhân dịp kỉ niệm lần thứ 50 ngày ''Casablanca'' được công chiếu lần đầu, tờ ''[[Los Angeles Times]]'' nhận xét rằng bộ phim đã đạt được sự cân bằng gần như hoàn hảo của cả ba thể loại phim ly kì, tình cảm và hài hước, tờ ''LA Times'' cho rằng sức sống lâu bền của bộ phim chính là tinh túy của các bộ phim Hollywood giai đoạn hoàng kim.<ref>{{chú thích báo | last=Strauss | first=Bob | title=Still the best: ''Casablanca'' loses no luster over time | work=[[Los Angeles Times]] | date=ngày 10 tháng 4 năm 1992 }}</ref> Theo nhà phê bình [[Roger Ebert]] thì ''Casablanca'' có lẽ là bộ phim nằm trong nhiều danh sách ''Phim hay nhất'' hơn tất cả các bộ phim khác, kể cả ''[[Công dân Kane]]'' (''Citizen Kane'') vì tầm ảnh hưởng rộng rãi của nó mà theo lời ông là ''Công dân Kane'' "xuất sắc hơn" nhưng ''Casablanca'' "được yêu thích hơn".<ref name="Ebertcommentary">Ebert, Roger. Commentary to ''Casablanca'' (Two-Disc Special Edition DVD).</ref> Ebert cho rằng sự phổ biến của bộ phim đến từ cách xây dựng hình ảnh nhân vật vô cùng đẹp đẽ trong phim, theo sự phát triển của tình tiết phim, các nhân vật càng bộc lộ sự tốt đẹp của mình tuy rằng một số nhân vật như Laszlo được xây dựng quá hoàn hảo tới mức thiếu thực tế.<ref name="Ebertcommentaryquote">Quoted in Ebert commentary.</ref>
 
Không phải toàn bộ ý kiến phê bình đều đánh giá cao ''Casablanca'', tờ ''[[The New Yorker]]'' chỉ đánh giá bộ phim là "tạm được" ("pretty tolerable").<ref>Harmetz, tr. 12–13</ref> Còn theo [[Pauline Kael]] thì bộ phim còn lâu mới có thể coi là một tác phẩm lớn mà chỉ là một bộ phim lãng mạn rẻ tiền.<ref>{{chú thích web |url=http://www.geocities.com/paulinekaelreviews/c2.html |title=Casablanca |author=Pauline Kael |publisher=geocities.com |accessdate=ngày 5 tháng 1 năm 2009|archiveurl=http://www.webcitation.org/1256530689745056|archivedate=ngày 26 tháng 10 năm 2009}}{{dead link|date=November 2010}}</ref> Tương tự Kael, [[Umberto Eco]] đánh giá "theo bất cứ tiêu chuẩn phê bình chính xác nào thì ''Casablanca'' cũng là một bộ phim hết sức tầm thường"<ref>Nguyên văn: "by any strict critical standards... ''Casablanca'' is a very mediocre film."</ref> với tuyến nhân vật không phải phức tạp mà là đầy sự mâu thuẫn.<ref>{{chú thích sách|author=[[Umberto Eco|Eco, Umberto]]|year=1994|title=Signs of Life in the USA: Readings on Popular Culture for Writers|publisher=Bedford Books|isbn=0-312-25925-5}}</ref> Bộ phim cũng bị nhận xét là có một số sai sót về mặt lịch sử và lôgic. Ví dụ tờ thông hành trong phim theo lời Ugarte là nó có chữ ký của cả Weygard, toàn quyền Vichy Pháp tại các thuộc địa Bắc Phi, và De Gaulle, lãnh tụ chính phủ Pháp Tự do lưu vong, trong khi thực tế thì tòa án quân sự của chính quyền Vichy Pháp đã kết án vắng mặt De Gaulle tội phản quốc với án chung thân vào ngày [[2 tháng 8]] năm [[1940]], vì vậy một tờ thông hành có chữ ký của De Gaulle thì hoàn toàn vô giá trị trong lãnh thổ do Vichy Pháp quản lý.<ref name="robertson" /> Theo Harmetz thì tờ thông hành này được Joan Allison nghĩ ra cho kịch bản sân khấu và nó chưa bao giờ bị đặt dấu hỏi về mức độ chính xác về mặt lịch sử.<ref>Harmetz, tr. 55</ref> Một chi tiết không hợp lý khác là việc Laszlo được đi lại tự do ở Casablanca sau khi trốn khỏi trại tập trung Đức Quốc xã vì "đây vẫn là vùng chưa bị chiếm đóng của nước Pháp", chi tiết này hoàn toàn không hợp lý vì chính quyền Vichy Pháp quản lý thành phố vốn có quan hệ cực kỳ chặt chẽ với Đức Quốc xã và chắc chắn Laszlo phải bị bắt ngay khi xuất hiện trước mặt cảnh sát Pháp.<ref name="Ebertcommentary">Ebert, Roger. Commentary to ''Casablanca'' (Two-Disc Special Edition DVD).</ref> Một câu thoại của Renault cũng đề cập tới chi tiết ông từng "đi cùng người Mỹ khi họ tiến về Berlin năm 1918", thực tế thủ đô nước Đức chưa bao giờ bị chiếm đóng trong [[Chiến tranh thế giới thứ nhất|Thế chiến thứ nhất]], việc Renault bị các sĩ quan Đức giám sát trực tiếp cũng là vô lý vì quân đội Đức không hề chính thức có mặt ở Casablanca suốt ThếChiến tranh thế chiếngiới thứ hai.<ref name="robertson" /> ''Casablanca'' còn gặp một số lỗi về tính liên tục trên phim, điển hình là cảnh Rick ướt sũng khi tới ga tàu để rời Paris nhưng khi anh lên tàu thì chiếc áo khoác lại khô cong, theo lời Michael Curtiz thì những lỗi về tính liên tục ''Casablanca'' gặp phải là do ông "làm bộ phim quá nhanh và chẳng ai để ý".<ref name="Ebertcommentaryquote" />
 
=== Ảnh hưởng ===
[[Tập tin:Good german.jpg|nhỏ|phải|Áp phích ''[[The Good German]]'' (2006) được thiết kế tương tự với áp phích phim ''Casablanca'' để gợi nhớ tới bộ phim này.]]
''Casablanca'' sau khi ra đời đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử điện ảnh Mỹ. Murray Burnett đã nhận xét rằng bộ phim luôn "chân thực với ngày hôm qua, hôm nay và cả ngày mai" ("true yesterday, true today, true tomorrow").<ref>{{chú thích web|url=http://www.imdb.com/title/tt0280526/|title=Casablanca 50th Anniversary Special: You Must Remember This|publisher=[[Internet Movie Database|IMDb]]|year=1992|accessdate=ngày 25 tháng 5 năm 2009}}</ref> Tính cho đến năm [[1955]], bộ phim có doanh thu tổng cộng 6,8 triệu đô la Mỹ, đứng thứ ba trong số các bộ phim của hãng Warner Bros. sản xuất thời kỳ chiến tranh. Sức ảnh hưởng của ''Casablanca'' được thể hiện qua nhiều chi tiết của bộ phim được tái hiện trong các tác phẩm điện ảnh ra đời sau nó. Năm [[1944]], bộ phim ''[[Passage to Marseille]]'' tập hợp gần như toàn bộ dàn diễn viên chính của ''Casablanca'' với Bogart, Rains, Curtiz, Greenstreet và Lorre. Riêng Humphrey Bogart đã có thêm hai bộ phim có rất nhiều điểm tương tự với ''Casablanca'', đó là ''[[To Have and Have Not (phim)|To Have and Have Not]]'' (1944) và ''[[Sirocco (phim)|Sirocco]]'' ([[1951]]). ''Casablanca'' còn được gợi lại qua nhiều bộ phim khác như ''[[A Night in Casablanca]]'' ([[1946]]) của [[anh em nhà Marx]], ''[[The Cheap Detective]]'' ([[1978]]) của [[Neil Simon]], ''[[Brazil (phim)|Brazil]]'' ([[1985]]) của [[Terry Gilliam]], ''[[Barb Wire (phim)|Barb Wire]]'' ([[1996]]) hay ''[[Out Cold (phim 2001)|Out Cold]]'' ([[2001]]). [[Steven Soderbergh]] trong bộ phim ''[[The Good German]]'' ([[2006]]) đã tái sử dụng rất nhiều kỹ thuật quay và chi tiết phim của ''Casablanca'' để tưởng nhớ tới bộ phim, ''The Good German'' nói về một vụ giết người xảy ra tại [[Berlin]] thời hậu ThếChiến chiếntranh thế giới thứ hai, tác phẩm được hoàn toàn quay bằng [[phim đen trắng]] và kết thúc bằng cảnh hai nhân vật chính (do [[George Clooney]] và [[Cate Blanchett]] thủ vai) ở sân bay, tương tự với cảnh kết của ''Casablanca'', thậm chí áp phích của bộ phim cũng được thiết kế tương tự với áp phích nổi tiếng của ''Casablanca''. Nhiều bộ phim còn tưởng nhớ tới ''Casablanca'' thông qua chính tựa đề của nó, ví dụ bộ phim ''[[Play It Again, Sam (phim 1972)|Play It Again, Sam]]'' ([[1972]]) của [[Woody Allen]] gợi tới câu thoại "Play it, Sam. Play ''As Time Goes By''!" còn ''[[The Usual Suspects]]'' ([[1995]]) của [[Bryan Singer]] lại sử dụng câu thoại ở phần kết của ''Casablanca'' là "Round up the usual suspects". Bộ phim ''[[Caboblanco]]'' ([[1980]]) thì thậm chí gần như là một tác phẩm làm lại ''Casablanca'' với bối cảnh [[Nam Mỹ]].<ref>{{chú thích sách|author=Yoram Allon và Hannah Patterson|title=Contemporary British & Irish Directors|publisher=Wallflower Press|year=2001|pages=332}}</ref> Bản thân hãng [[Warner Bros.]] vào năm [[1995]] cũng cho làm một bộ phim nhái lại ''Casablanca'' với tựa đề ''[[Carrotblanca]]'', đây là một tập phim hoạt hình thuộc loạt [[Bugs Bunny]]. Trên truyền hình, ảnh hưởng của ''Casablanca'' có thể thấy rõ qua cốt truyện của bộ phim ''[[Overdrawn at the Memory Bank]]'' ([[1983]]) hay tập phim ''Casablanca'' của loạt ''[[Moonlighting (phim truyền hình)|Moonlighting]]'' trong đó hai nhân vật chính có tên "Rick" ([[Curtis Armstrong]]) và "Agnes" ([[Allyce Beasley]]). Trò chơi máy tính được đánh giá cao năm 1998 [[Grim Fandango]] cũng chịu nhiều ảnh hưởng của bộ phim, cụ thể rõ nhất là ở cảnh II, Rubacava, khi các nhân vật chính của game là Manny Calavera và Glottis mặc trang phục giống Rick Blaine và Sam.
 
Tại Hoa Kỳ, ''Casablanca'' luôn được chiếu lại trong tuần kiểm tra cuối kì của [[Đại học Harvard]], truyền thống này đã được nhiều trường đại học Mỹ khác bắt chước.<ref>Harmetz, tr. 343</ref> Trong khi nhiều bộ phim sản xuất thập niên 1940 dần bị quên lãng theo thời gian thì ''Casablanca'' cho tới năm [[1977]] vẫn là tác phẩm điện ảnh được chiếu lại nhiều nhất trên truyền hình Mỹ.<ref>Harmetz, tr. 346</ref> Tuy nhiên dường như ''Casablanca'' có ảnh hưởng sâu đậm với giới hâm mộ điện ảnh hơn là giới làm điện ảnh. Năm [[1982]] trong một bài báo trên tờ ''American Film'', Chuck Ross đã tuyên bố rằng ông vừa thử nghiệm việc đánh máy lại kịch bản ''Casablanca'', chỉ thay lại tựa đề thành ''[[Everybody Comes to Rick's]]'' và thay tên nghệ sĩ chơi piano thành [[Dooley Wilson]] rồi gửi nó tới 217 đại diện môi giới. Trong số 85 đại diện đọc nó thì 38 đại diện thẳng thừng từ chối kịch bản này, 33 nhận ra được nó là kịch bản cũ (tuy chỉ có 8 là xác định được đây là kịch bản ''Casablanca''), 3 nhận xét rằng nó có khả năng thương mại hóa, và 1 thì đề nghị chuyển kịch bản thành tiểu thuyết.<ref>{{chú thích sách|last=Zinman|first= David|date=ngày 10 tháng 4 năm 1983|title=The Magazine|publisher=''[[The Province]]''|pages=12}}</ref>
{{Michael Curtiz}}
}}
{{các chủ đề|Điện ảnh|ThếChiến chiếntranh thế giới thứ hai|Mỹ}}
{{sao chọn lọc}}