Khác biệt giữa các bản “Elfriede Jelinek”

n
→‎Tiểu sử: sửa chính tả 3, replaced: Thế chiến thứ hai → Chiến tranh thế giới thứ hai using AWB
n (→‎Tiểu sử: sửa chính tả 3, replaced: Quốc Xã → Quốc xã using AWB)
n (→‎Tiểu sử: sửa chính tả 3, replaced: Thế chiến thứ hai → Chiến tranh thế giới thứ hai using AWB)
 
== Tiểu sử ==
Elfried Jelinek sinh ở [[Mürzzuschlag]], [[Steiermark|Styria]], [[Áo]]. Bố là người [[Séc]] gốc [[Do Thái]], trong những năm [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Thế chiến thứ hai]] là nhà hóa học làm việc trong một nhà máy có tầm quan trong chiến lược của quân đội [[Đức]] nên không bị thủ tiêu. Mẹ là một tín đồ [[Thiên Chúa giáo]] người [[România]] gốc [[Đức]], xuất thân trong một gia đình quý tộc ở [[Viên]]. Jelinek lớn lên tại Wien, nơi bà được học đàn organ và sáng tác nhạc tại Nhạc viện Wien. Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1964, bà học lịch sử nghệ thuật và nghệ thuật sân khấu tại [[Đại học Wien]].
 
Năm 1967 Jelinek in tập thơ đầu tay ''Lisas Schatten'' (Cái bóng của Lisa). Bà tham gia tích cực vào phong trào đấu tranh sinh viên ở [[châu Âu]] trong [[thập niên 1970]] và những năm 1974-1991 là đảng viên [[Đảng Cộng sản Áo]]. Năm 1974, ''Wenn die sonne sinkt, ist für manche schon büroschluß'' (Khi mặt trời lặn là lúc đóng cửa hàng) của bà được tuyên bố là vở kịch thành công nhất trong năm tại Áo. Cùng năm, bà kết hôn với nhạc sĩ người Đức Gottfried Hüngsberg và từ đó sống khi ở Wien, khi ở [[Đức]]. Tiểu thuyết ''Die Liebhaberinnen'' (Những cô người tình, 1975) và ''Die Ausgesperrten'' (Những kẻ bị cấm cửa, 1980) được bạn đọc Đức hoan nghênh.