Khác biệt giữa các bản “Đế quốc Brasil”

không có tóm lược sửa đổi
| image3 = Rio de janeiro 1889 04.jpg|caption3 = [[Rio de Janeiro]] là một đại đô thị và là thủ đô của đế quốc, 1889.
}}
 
Hiến pháp năm 1824 tạo ra ''Conselho Geral de Província'' (Đại hội đồng cấp tỉnh), là cơ quan lập pháp của các tỉnh.{{sfn|Dolhnikoff|2005|p=59}} Hội đồng này gồm có 21 hoặc 13 thành viên được tuyển cử, tùy thuộc quy mô dân số các bang.{{sfn|Dolhnikoff|2005|p=60}} Toàn bộ "nghị quyết" (luật) do các hội đồng này lập ra cần được Đại hội đồng quốc gia phê chuẩn, không có quyền thượng tố.{{sfn|Dolhnikoff|2005|p=60}} Các hội đồng cấp tỉnh cũng không có quyền tăng thu thuế, và ngân sách của họ do Đại hội đồng thảo luận và phê chuẩn.{{sfn|Dolhnikoff|2005|p=60}} Các tỉnh không có quyền tự trị và hoàn toàn phụ thuộc chính phủ quốc gia.{{sfn|Dolhnikoff|2005|p=59}}
 
Đạo luật tu chính án năm 1834, các đại hội đồng cấp tỉnh bị thay thế bằng ''Assembleias Legislativas Provinciais'' (Hội đồng lập pháp cấp tỉnh). Các hội đồng mới này được hưởng quyền tự trị lớn hơn từ chính phủ quốc gia.{{sfn|Dolhnikoff|2005|pp=64, 97}} Một hội đồng lập pháp cấp tỉnh gồm có 36, 28 hoặc 20 đại biểu được tuyển cử, số lượng tùy theo quy mô dân số.{{sfn|Dolhnikoff|2005|p=97}} Bầu cử đại biểu cấp tỉnh theo thủ tục tương tự như bầu cử đại biểu Chúng nghị viện.{{sfn|Dolhnikoff|2005|p=97}}
 
Trách nhiệm của hội đồng lập pháp cấp tỉnh bao gồm xác định ngân sách cấp tỉnh và đô thị, đánh thuế cần thiết để hỗ trợ họ; chu cấp cho các trường tiểu học và trung học (giáo dục bậc đại học là trách nhiệm của chính phủ quốc gia); kiểm tra và giám sát chi tiêu cấp tỉnh và đô thị; chu cấp cho việc thực thi pháp luật và duy trì lực lượng cảnh sát. Các hội đồng cũng kiểm soát việc thiết lập và bão bỏ, cùng với lương cho các chức vụ công vụ cấp tỉnh và đô thị. Việc bổ nhiệm, đình chỉ và sa thải các công vụ viên dành riêng cho chủ tịch (thống đốc) của tỉnh, song cách thức và hoàn cảnh thi hành cần do hội đồng hoạch định. Việc trưng dụng tài sản cá nhân (đền bù bằng tiền) vì lợi ích của tỉnh và đô thị cũng là một quyền của hội đồng.{{sfn|Dolhnikoff|2005|p=99}} Trên thực tế, hội đồng cấp tỉnh có thể ban hành bất kỳ loại luật nào mà không cần Nghị viện phê chuẩn, chừng nào những luật địa phương này không vi phạm hoặc xâm phạm Hiến pháp. Tuy nhiên, các tỉnh không được phép lập pháp trên các lĩnh vực luật hình sự, luật tố tụng hình sự, các quyền dân sự và các nghĩa vụ, lực lượng vũ trang, ngân sách quốc gia và các vấn đề liên quan đến lợi ích quốc gia như quan hệ đối ngoại.{{sfn|Dolhnikoff|2005|p=100}}
 
Chính phủ quốc gia bổ nhiệm các chủ tịch tỉnh, và theo lý thuyết họ chịu trách nhiệm cai quản tỉnh. Tuy nhiên, trên thực tế quyền lực của họ là vô hình, khác biệt giữa các tỉnh dựa trên mức độ quan hệ của chủ tịch. Do chính phủ quốc gia muốn đảm bảo lòng trung thành của các chủ tịch tỉnh, trong hầu hết trường hợp những người này được phái đến mọt tỉnh mà họ không có các quan hệ chính trị, gia đình và các quan hệ khác.{{sfn|Dolhnikoff|2005|p=102}} Nhằm ngăn chặn họ phát triển bất kỳ lợi ích hay ủng hộ địa phương mạnh mẽ nào, các chủ tịch bị giới hạn nhiệm kỳ chỉ trong vài tháng.{{sfn|Dolhnikoff|2005|p=102}} Do các chủ tịch thường dành một lượng lớn thời gian bên ngoài tỉnh, thường đi đến tỉnh quê hương của họ hoặc đến thủ đô, thống đốc "thực tế" là phó chủ tịch, người này do hội đồng cấp tỉnh lựa chọn và thường là một chính trị gia địa phương.{{sfn|Dolhnikoff|2005|p=103}} Do quyền lực hạn chế không thể làm yếu đi quyền tự trị cấp tỉnh, chủ tịch là một đại lý của chính phủ trung ương với ít trách nhiệm ngoài việc truyền đạt các quan tâm của trung ương đến các đầu sỏ chính trị trong tỉnh. Các chủ tịch có thể được chính phủ quốc gia sử dụng để tác động đến các cuộc bầu cử hay thậm chí là gian lận, song tác động mà chủ tịch đạt được dựa vào các chính trị gia cấp tỉnh và địa phương thuộc cùng chính đảng với ông ta. Sự phụ thuộc lẫn nhau này tạo ra một mối quan hệ phức tạp, dựa trên trao đổi ân huệ, lợi ích cá nhân, mục tiêu của đảng, thương lượng và các vận động chính trị khác.{{sfn|Dolhnikoff|2005|pp=110–112}}
 
''câmara municipal'' (hội đồng đô thị) là cơ cấu quản lý tại các thị trấn và thành phố, tồn tại từ khi bắt đầu thời kỳ thuộc địa trong thế kỷ 16. Cơ cấu bao gồm ''vereadores'' (nghị viên hội đồng), số lượng tùy theo quy mô đô thị.{{sfn|Dolhnikoff|2005|p=118}} Không như Đại hội đồng cấp tỉnh, Hiến pháp trao cho các hội đồng đô thị quyền tự trị lớn. Tu nhiên, khi Hội đồng lập pháp cấp tỉnh thay thế Đại hội đồng cấp tỉnh vào năm 1834, nhiều quyền của các hội đồng đô thị (tng đó có định ngân sách đô thị, giám sát chi tiêu, tạo việc làm, và bổ nhiệm công vụ viên) được chuyển cho chính phủ cấp tỉnh. Thêm vào đó, bất kỳ luật nào do hội đồng đô thị ban hành cần phải được hội đồng cấp tỉnh phê chuẩn, thay vì Nghị viện.{{sfn|Dolhnikoff|2005|p=83}} Theo Tu chính án năm 1834, các tỉnh được trao quyền tự trị lớn hơn, các quyền tự trị còn lại của đô thị bị chuyển cho chính quyền cấp tỉnh.{{sfn|Dolhnikoff|2005|pp=118–119}} Không có chức vụ thị trưởng, và hội đồng đô thị và chủ tịch của hội đồng tiến hành quản lý đô thị.{{sfn|Rodrigues|1863|pp=134–135}}
 
==Tham khảo==