Khác biệt giữa các bản “Đế quốc Brasil”

không có tóm lược sửa đổi
n
 
Chính phủ Brasil sau cùng cảm thấy đủ tự tin để đàm phán một thỏa thuận mậu dịch với Hoa Kỳ vào năm 1889, thỏa thuận đầu tiên được tiến hành với bất kỳ quốc gia nào kể từ hiệp định mậu dịch tai hại và bóc lột với Anh Quốc vào năm 1826 (bãi bỏ năm 1844). Sử gia Hoa Kỳ Steven C. Topik phát biểu rằng Pedro II "tìm kiếm một hiệp định mậu dịch với Hoa Kỳ nằm trong một chiến lược lớn hơn nhằm gia tăng chủ quyền và quyền tự chủ quốc gia." Không như trường hợp hiệp ước trước, Đế quốc ở vào thế vững chắc để nhấn mạnh về điều kiện mậu dịch thuận lợi, do đàm phán diễn ra trong thời gian Brasil có phồn vinh nội bộ và uy tín quốc tế.{{sfn|Topik|2000|p=60}}
 
== Kinh tế ==
=== Tiền tệ===
{{multiple image
| align = left
| direction = vertical
| width = 200
| image1 = Papel-moeda - 500 réis.jpg|caption1 = 500 ''réis'' hay Rs 500
| image2 = Papel-moeda - 200 mil réis.jpg|caption2 = 200.000 ''réis'' hay Rs 200$000 hay 200 ''milréis''
}}
 
Đơn vị tiền tệ từ khi thành lập đế quốc cho đến năm 1942 là ''real'' ("hoàng gia", dạng số nhiều là ''réis'' và là ''reais'' trong tiếng Bồ Đào Nha hiện đại), và bắt nguồn từ real Bồ Đào Nha. Nó thường được gọi là ''milréis'' (nghìn hoàng gia) và viết là 1$000. Một nghìn ''milréis'' (1:000$000)—hay một triệu ''réis''—được gọi là ''conto de réis''.{{sfn|Barman|1999|p=XVI}} Một ''conto de réis'' được biểu thị bằng ký hiệu ''Rs'' viết trước giá trị và bởi một ký hiệu dollar viết trước bất kỳ lượng nào nhỏ hơn 1.000 ''réis''. Do đó, 350 ''réis'' được viết là "Rs 350"; 1.712 ''réis'' là "Rs 1$712"; và 1.020.800 ''réis'' được viết là "Rs 1:020$800". Đói với hàng triệu, một dấu chấm câu được sử dụng để phân tách giữa hàng triệu, tỷ và nghìn tỷ (như 1 tỷ ''réis'' được viết là "Rs 1.000:000$000"). Một dấu hai chấm có chức năng phân biệt hàng triệu với hàng nghìn, và ký hiệu $ được đặt giữa hàng nghìn và hàng trăm (999 trở xuống). {{sfn|Graça Filho|2004|p=21}}
 
=== Tổng quan ===
[[File:Fazenda Santa Genebra São Paulo 1880.jpg|thumb|right|200px|left|Một nông trại cà phê tại tỉnh São Paulo, 1880]]
[[File:Fabrica brasil 1880.jpg|thumb|200px|Một công xưởng tại Brasil, 1880]]
[[File:Railroad station in minas gerais 1884.jpg|thumb|200px|Một ga xe lửa tại tỉnh Minas Gerais, khoảng năm 1884]]
 
Mậu dịch quốc tế của Brasil đạt tổng giá trị Rs 79.000:000$000 từ năm 1834 đến năm 1839. Con số này tiếp tục gia tăng hàng năm cho đến khi đạt Rs 472.000:000$000 từ năm 1886 đến năm 1887: tốc độ tăng trưởng bình quân năm đạt 3,88% từ 1839.{{sfn|Sodré|2004|p=201}} Giá trị xuất khẩu tuyệt đối từ Đế quốc trong năm 1850 là cao nhất tại Mỹ Latinh và gấp ba lần của [[Argentina]]. Brazil duy trì vị thế cao trong xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế nói chung cho đến khi kết thúc chế độ quân chủ.{{sfn|Fausto|Devoto|2005|p=47}} Phát triển kinh tế của Brasil, đặc biệt là sau năm 1850, ở mức tốt so với Hoa Kỳ và các quốc gia châu Âu.{{sfn|Fausto|Devoto|2005|p=50}} Thu nhập quốc gia từ thuế đạt đến Rs 11.795:000$000 vào năm 1831 và tăng lên Rs 160.840:000$000 vào năm 1889. Đến năm 1858, thu nhập quốc gia từ thuế của Brasil đứng hạng tám thế giới.{{sfn|Lira 1977, Vol 1|p=200}} Brasil thời kỳ đế quốc dù tiến bộ song vẫn là quốc gia phân phối của cải rất không bình đẳng.{{sfn|Barman|1988|pp=218, 236, 237}} Tuy nhiên, vì mục đích so sánh, theo sử gia Steven C. Topik thì tại Hoa Kỳ, "đến năm 1890, 80% cư dân sống ở sát mức sinh tồn, trong khi 20% kiếm soát hầu như toàn bộ của cải."{{sfn|Topik|2000|p=19}}
 
Các kỹ thuật mới xuất hiện, cộng thêm năng suất trong nước gia tăng, do đó xuất khẩu tăng đáng kể. Điều này khiến Brasil có thể đạt được cân bằng trong cán cân mậu dịch. Trong thập niên 1820, đường chiếm khoảng 30% tổng lượng xuất khẩu trong khi bông sợi chiếm 21%, cà phê 18% còn da thuộc và da là 14%. Hai mươi năm sau, cà phê chiếm 42%, đường 27%, da thuộc và da 9%, bông sợi 8% tổng lượng xuất khẩu. Điều này không có nghĩa là bất kỳ mặt hàng nào giảm sản lượng, trên thực tế là ngược lại. Tăng trưởng xuất hiện trong toàn bộ các lĩnh vực, song có một số lĩnh vực tăng trưởng nhanh hơn. Trong giai đoạn từ năm 1820 đến năm 1840, Fausto nói rằng "xuất khẩu của Brasil tăng gấp đôi về khối lượng và gấp ba về giá trị danh nghĩa" tong khi tăng hơn 40% theo định giá bằng [[bảng Anh]].{{sfn|Fausto|Devoto|2005|p=46}} Brasil không phải quốc gia duy nhất có tình trạng nông nghiệm đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu. Khoảng năm 1890, hàng hóa nông chiếm chiếm 80% tổng lượng xuất khẩu của quốc gia giàu nhất châu Mỹ đương thời là Hoa Kỳ.{{sfn|Topik|2000|p=33}}
 
Trong thập niên 1820, Brasil xuất khẩu 11.000 tấn [[cacao]] và đến năm 1880 con số này tăng lên đến 73.500 tấn.{{sfn|Vainfas|2002|p=250}} Từ năm 1821 đến năm 1825, 41.174 tấn đường được xuất khẩu, và tăng lên 238,074 tấn từ năm 1881 đến năm 1885.{{sfn|Vainfas|2002|p=251}} Cho đến năm 1850, sản lượng cao su không đáng kể, song từ năm 1881 đến năm 1890, mặt hàng vươn lên vị trí thứ ba trong danh mục hàng hóa xuất khẩu của Brasil.{{sfn|Fausto|1995|p=239}} Con số này đạt 81 tấn từ năm 1827 đến năm 1830 và đạt 1.632 tấn trong năm 1852. Đến năm 1900, Brasil đã xuất khẩu 24.301.452 tấn cao su.{{sfn|Vainfas|2002|p=250}} Brasil cũng xuất khẩu khoảng 3.377.000 tấn cà phê từ năm 1821 đến năm 1860 và trong giai đoạn từ năm 1861 đến năm 1889 con số này đạt 6.804.000 tấn.{{sfn|Calmon|2002|p=368}} Các sáng kiến kỹ thuật cũng góp phần vào tăng trưởng xuất khẩu,{{sfn|Fausto|Devoto|2005|p=46}} đặc biệt là tiếp nhận tàu hơi nước và đường sắt cho phép vận chuyển hàng hóa nhanh hơn và tiện lợi hơn.{{sfn|Vainfas|2002|p=538}}
 
=== Phát triển ===
Brasil phát triển quy mô lớn trong giai đoạn này, được mong đợi tiến bộ tương tự như tại các quốc gia châu Âu.{{sfn|Lira 1977, Vol 2|p=13}}{{sfn|Vasquez|2007|p=38}} Năm 1850, quốc gia có 50 nhà máy với tổng vốn Rs 7.000:000$000. Đến khi kết thúc thời kỳ đế quốc vào năm 1889, Brasil có 636 nhà máy cho thấy tăng trưởng số lượng hàng năm là 6,74% từ 1850, và với tổng vốn xấp xỉ Rs 401.630:600$000 (tương đương tăng trưởng hàng năm về giá trị là 10,94% từ 1850 đến 1889).{{sfn|Viana|1994|p=496}} "Vùng thôn quê vang vọng tiếng của đường ray bằng sắt được lắp đặt khi mà đường sắt được xây dựng với tốc độ mãnh liệt nhất trong thế kỷ 19; quả thực là xây dựng trong thế kỷ 1880 ở mức độ lớn thứ hai về điều kiện tuyệt đối trong toàn bộ lịch sử Brasil. Chỉ có tám quốc gia trên thế giới lắp đặt nhiều đường ray trong thập niên này hơn Brasil."{{sfn|Topik|2000|p=56}} Tuyến đường sắt đầu tiên chỉ có {{convert|15|km}} đường ray, được khánh thành vào ngày 30 tháng 4 năm 1854{{sfn|Calmon|2002|p=222}} tại thời điểm nhiều quốc gia châu Âu vẫn chưa có dịch vụ đường sắt.{{sfn|Lira 1977, Vol 2|p=13}} Đến năm 1868, quốc gia có {{convert|718|km}} đường sắt,{{sfn|Calmon|2002|p=225}} vqaf đến cuối thời kỳ đế quốc vào năm 1889 con số này tăng lên {{convert|9200|km}} cùng {{convert|9000|km}} đang được xây dựng{{sfn|Calmon|2002|p=226}} biến Brasil thành quốc gia có "mạng lưới đường sắt lớn nhất tại Mỹ Latinh".{{sfn|Topik|2000|p=56}}
 
==Tham khảo==